CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Tổng quan về du lịch 1.1 Khái niệm du lịch Ngày nay du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ du lịch đã trở nên khá thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Du lịch gắn liền với nghỉ ngơi, giải trí, tuy nhiên do hoàn cảnh, thời gian và khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm du lịch cũng không giống nhau.
Theo quan niệm của Guer Freuler: Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên. Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của dân cư mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở, làm việc thường xuyên của họ. Hội Nghị Liên Hợp Quốc tế về Du Lịch ở Roma năm 1963 quan niệm: Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Quan niệm của Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Cannada tháng 06/1991: Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm. Theo Michael Coltman (Mỹ): du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch. Ông đưa ra sơ đồ tương tác: Khách du lịch Nhà cung ứng dịch vụ du lịch Cư dân sở tại C.Q địa phương nơi đón tiếp khách Hình 1.1: Sơ đồ tương tác giữa các nhóm nhân tố trong quá trình phụ vụ du khách Nguồn: Michael Coltman - Ở Việt Nam, Theo Luật Du lịch năm 2017 quan niệm về du lịch được hiểu như sau: “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” Từ các quan niệm trên, có thể rút ra những điểm chung về hoạt động du lịch như sau: + Du lịch là hoạt động có mục tiêu đa dạng của con người (nghỉ ngơi, giải trí, thăm quan, chữa bệnh, khám phá, thưởng ngoạn, giải toả tâm lý, tâm linh…) nhưng không nhằm mục tiêu kiếm lợi nhuận.
+ Du lịch là hoạt động tương tác, bao gồm nhiều thành phần tham gia: khách du lịch, người cung ứng, cư dân nơi du lịch, chính quyền nơi du lịch, trên cơ sở tính toán đủ chi phí - lợi ích. + Là hoạt động di chuyển đi khỏi nơi ở thường xuyên cũ đến một hoặc nhiều địa điểm mới. + Các hoạt động diễn ra ở nơi du lịch chỉ trong một thời gian ngắn. + Khi kết thúc hoạt động du lịch lại trở về nơi cư trú thường xuyên.2 Vai trò của du lịch Du lịch là ngành kinh tế quan trọng, góp phần tạo ra thu nhập ngày càng tăng cho xã hội.
Du lịch là lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ - dịch vụ là ngành có tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu ngành kinh tế. Hoạt động du lịch thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp dân cư, mang lại thu nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch, mà còn tác động gián tiếp đối với những ngành liên quan… Phát triển du lịch ngân sách địa phương được nâng lên, từ đó có điều kiện đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Do tính chất xã hội hóa hoạt động du lịch, sản phẩm phục vụ du khách có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
Du lịch góp phần tạo việc làm cho người lao động. Du lịch là ngành dịch vụ có nhu cầu về lao động cao, cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, điều này góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần giữ vững ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ đối ngoại, tăng cường hiểu biết và giao lưu kinh tế, văn hóa với các dân tộc, các nước trên thế giới. Tuy nhiên, khi phát triển du lịch không hợp lý sẽ có tác động xấu về mặt kinh tế xã hội và môi trường đó là: Sự phát triển du lịch quốc tế thụ động quá nhanh có thể dẫn đến mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây áp lực cho lạm phát nội địa, (một số nước đã phải có quy định khống chế tối đa) về số lần đi nước ngoài và số ngoại tệ mạnh được mang theo.
Nếu một nền kinh tế quá phụ thuộc vào du lịch thì tính bất ổn sẽ cao, nhất là trong những tình hình xung đột sắc tộc, xung đột quốc gia, xung đột khu vực và khủng hoảng kinh tế thế giới, khu vực có thể xảy ra khó lường. Tính thời vụ trong ngành du lịch có thể gây rủi ro cho những ngành liên quan. Du lịch luôn tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ cảnh quan tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước và mất cân bằng sinh thái. Du lịch luôn tiềm ẩn nguy cơ lây lan, truyền nhiễm bệnh tật từ bên ngoài, mang theo những tệ nạn xã hội.3 Đặc điểm của du lịch Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp có đặc điểm sau: Thứ nhất, du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch.
Bất cứ một du khách nào, với động cơ và hình thức ra sao thì yêu cầu có tính phổ biến phải đạt được đối với họ là được tham quan, vui chơi, giải trí, tìm hiểu các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội của một xứ sở. Tài nguyên du lịch có loại do thiên nhiên tạo ra nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của con người tại ra. Đây chính là cơ sở khách quan để hình thành các tuyến, điểm du lịch. Thứ hai, du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch.
Nhũng người đi du lịch dù thuộc đối tượng nào và với nguồn tiền của cá nhân hay tập thể thì trong thời gian đi du lịch, mức tiêu dùng của họ thường cao hơn so với tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư. Chưa kể một bộ phận lớn khách du lịch quốc tế là các tầng lớp thượng lưu, những thương gia, những nhà kinh doanh, trí tức, chính khách. Vì vậy ngành du lịch phải là một ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ cho các nhu cầu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng và các dịch vụ của khách sao cho vừa thuận tiện, an toàn vừa sang trọng, lịch sự và có khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao cấp. Thứ ba, du lịch là ngành kinh doanh và dịch vụ còn phải bảo đảm nhu cầu an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách và các nước đón nhận du khách.
Thứ tư, ngành du lịch là 1 ngành kinh tế - xã hội - dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí có hoặc không kết hợp với các hoạt động khám chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác. Như vậy đây là một ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn nhau tạo thành một tổng thể rất phức tạp. Hoạt động của ngành du lịch vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa mang đặc điểm của nghành văn hóa- xã hội.4 Các hình thức du lịch Hoạt động du lịch có thể phân theo nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo tiêu chí cơ bản sau: Phân chia theo môi trường tài nguyên: Du lịch thiên nhiên; Du lịch văn hóa Phân loại theo mục đích chuyến đi: Du lịch tham quan; Du lịch giải trí; Du lịch nghỉ dưỡng; Du lịch khám phá; Du lịch thể thao; Du lịch lễ hội; Du lịch tôn giáo; Du lịch nghiên cứu (học tập); Du lịch hội nghị; Du lịch thể thao kết hợp; Du lịch chữa bệnh; Du lịch thăm thân; Du lịch kinh doanh Ngoài ra còn một số loại hình du lịch mới xuất hiện, đó là: Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
Du lịch văn hoá, lịch sử và xã hội, tôn giáo: Du lịch văn hóa, lịch sử và xã hội là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Du lịch tôn giáo, tín ngưỡng: là hình thức du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người, du khách thường tìm đến các đền, chùa, các thắng tích tôn giáo để vãn cảnh, cúng bái, cầu nguyện. Du lịch kết hợp tổ chức sự kiện chọn gói - Du lịch MICE MICE(Meeting Incentive Conference Event), MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước.