Mở đầu, luận văn có bốn chương. ~ Chương một: Những vấn dé chung về dấu câu — Nội dung dạy - học dấu câu ở trường phổ thông trình bày vê khái niệm, vai trò, cơ sở phân loại và cách sử dụng một số loại dấu câu phổ biến trong tiếng Việt. Ngoài ra, chương một cũng trình bay sơ lược về nội dung và thời lượng dấu câu được day - học ở trường phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở). ~ Chương hai: Nội dung chương trình và sách giáo khoa - phần đấu câu (Một cái nhìn so sánh) đối chiếu, so sánh, phân tích những điểm khác biệt cũng như tương đồng về nội dung, thời lượng, kiểu bài đấu câu nói chung và từng loại dấu câu nói riêng giữa hai chương trình và SGK CCGD, TNTH 2000, ~ Chương ba: Thực trạng dạy - học dấu câu ở trường tiểu học (Một cái nhìn đối chiếu) trình bày về thực trạng dạy học dấu câu ở một vài trường tiểu học và một số lỗi về sử dụng dấu câu mà HS phạm thường mắc phải.
— Chương bốn: Từ những điều đã trình bày ở các chương mội, hai, ba, chương này rút ra một số nhận xét và để xuất một số ý kiến về vấn để dấu câu trong chương trình - sách giáo khoa và hình thức tổ chức, quy trình, PPDH phan dấu câu cho HS tiểu học. Ngoài 83 trang chính văn, luận văn dành 68 trang Phụ lục để trình bày vẻ: (I) Bảng thống kê vé trình độ giáo viên; (HH) Bảng thống kê về tuổi nghề của giáo viên; (HD) Mẫu phiếu khảo sát kĩ nang sử dụng dấu câu của học sinh tiểu học; (IV) Kết quả khảo sát kĩ nang sử dụng dấu câu của học sinh tiểu học; (V) Một số phiếu phỏng vấn Ban Giám hiệu và giáo viên tiểu học; (VI) Phiếu dự giờ; (VI) Giáo án và 5 trang danh mục của 66 tài liệu tham khảo. CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẤU CÂU Nội dung đạy - học dấu câu ở trường phổ thông I. Dấu câu, tim quan trọng của đấu câu I1.
Dấu câu Nói đến dấu câu tức là nói đến văn tự, đến ngôn ngữ viết, một hình thức giao tiếp có tính chất gián tiếp của con người. Ở hình thức giao tế này, không có những nhân tố có thể giúp cho người ta hiểu nhau dễ đàng như trong hình thức giao tế trực tiếp bằng lời nói. Vì vậy, dấu câu là kí hiệu chữ viết được dùng trong ngôn ngữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau, đồng thời biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và những mục đích nói khác nhau. Hôm nay, Lan sẽ đến ga Thống Nhất hic 7 già.
Anh có đi chơi Dam Sen với em không? c. Chao Gi! Cái mũ này xinh quát d. Bác ơi, bác làm ơn mở giùm chau cúi cửa! 1. Vai trò của đấu câu Do ngôn ngữ viết không có những nhân tố đi kèm theo như ngữ điệu, cử chi,.
như ở ngôn ngữ nói, nên dấu câu rất quan trọng. Nó có tính chất trợ thêm, góp phần làm cho việc giao tế bằng chữ viết của con người được dễ dàng hơn. Nếu như viết mà không dùng dấu câu thì người đọc sẽ khó khăn trong việc tiếp nhận văn bản, thậm chí có thể hiểu sai. Chẳng han, so sánh giữa hai phan trích: (a) xoá hết các dấu câu và (b) khôi phục lại các dấu câu: (a) bốn nàng tiên mdi chuyện trò không biết bà Đất đã ngủ dậy từ lúc nào bà vui vẻ gop chuyện các chắu mỗi người một vẻ Xuân làm cho cây lá tưới tốt Ha cho irdi ngọt hoa thơm Thu làm cho trời xanh cao cho học sinh nhớ ngày tự trường con châu Đông ai mà ghét cháu được chdu có công dp & mâm sống để Xuân vẻ cây cốt đâm chối năy lộc các cháu déu có ích déu dang yêu (b) Bđn nàng tiên mdi chuyện trò, không biết bà Đất đã nụủ đây từ lúc nào.
Bà vui về góp chuyện: ~ Các châu mỗi người một vẻ. Xuân làm cho cây lá tươi tốt. Hạ cho trái ngọt, hoa thơm, Tha lam cho trời xanh cao, cho học sinh nhủ ngày tựu trường. Còn chdu Đông, ai mà ghét chdu được f Chắu có công ấp ủ mdm sống để Xuân về cây cối đâm chối nảy lộc.
Các châu đều có ích, đều đẳng yêu. (Tiểng Việt ldp 3, tập 3, Sách TNTH, 2000) Ta thấy, khi đọc đoạn văn (b), nhỡ có các dấu câu, người đọc dé dàng hiểu được nội dung và ý nghĩa mà người viết muốn thể hiện. Dấu câu đã góp một phẩn không nhỏ vào việc giúp người viết diễn tả đúng suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình. Bên cạnh đó, vị trí của các dấu câu trong văn tự cũng góp một phần vào việc chuyển tải cảm nghĩ và mục đích của người viết.
Dấu câu ở những vị trí khác nhau sẽ làm cho ý nghĩa của câu văn, đoạn van thay đổi hoàn toàn. Bò cày, không được thị. Bò cày không được, thị. Mặt khác, nếu cùng một câu văn ta dùng những dấu câu khác nhau thì ý nghĩa của câu văn sẽ thay đổi.
Chẳng hạn, so sánh: a, Mai hỏi Lan cá di Vãng Tàu hay không. b, Mai hỏi: “Lan có di Vang Tàu hay khong?” Vi du (a) cho thấy: Câu văn kể về việc: “Mai hỏi Lan có di Vũng Tàu không". Nhưng khi ta thêm các dấu: hai chấm, ngoặc kép và chấm hỏi (vd b) thì ngữ cảnh và ý nghĩa của câu văn hoàn toàn thay đổi: nó là câu hỏi của Mai muốn Lan cho biết về việc di Vũng Tàu. Thành thử, có thể nói việc ghi thêm dấu câu, thay đổi trật tự của các dấu câu và thay đổi các loại dấu câu vào cùng một ngữ liệu thì ý nghĩa của các câu đã trở nên hoàn toàn khác.
người viết dùng dấu câu không phải chỉ để giúp cho việc điễn đạt những tư tưởng và cảm xúc trong bài văn thêm chuẩn xác (tránh gây hiểu lắm) mà còn để việc diễn đạt ấy được hay hơn, được sinh động và tế nhị hơn. Cho nên, người viết, đặc biệt là những nhà hoạt động văn hóa lớn, khi sử dụng dấu câu bao giờ cũng có những tìm tòi, sáng tạo, những chủ ý tu từ của riêng mình. Chẳng hạn dấu chấm lửng tu từ là dấu chấm lửng được thực hiện trên cơ sở những lí do tu từ học, chứ không phải dấu chấm lửng bắt buộc do yêu cẩu diễn đạt các ý có nhiều sự vật, sự việc tương tự (tương đương với v. Dinh Trọng Lạc (1995), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, Hà Nội).
Dấu chấm lửng có những tác dụng tu từ sau: miêu tả, bộc lộ tâm trạng muôn màu, muôn vẻ của con người: vui vẻ, buồn bã, hồi hộp, lo âu, suy tư, dan đo, cuồng nhiệt, vội vàng, gấp gáp. Dấu chấm lửng có thể mô tả rất tinh tế tất cả những tâm trang, tình cảm đó “một cách im lặng”. Vd: Lan nói trong lan nde mắt: “Ba.” Dấu chấm lửng đã góp một phần không nhỏ vào việc biểu thị tình cảm nghẹn ngào, không muốn rời xa ba của nhân vật Lan. Dấu chấm lửng còn thể hiện những ẩn ý nghệ thuật của tác giả, thường gặp trong trường hợp dẫn ngữ.
Vd: Nỗi niém xa nghĩ mà thương: Đẫu fa nud ý, còn vương tơ lòng. Nhân tinh nhắm mắt chưa xong Biết ai hau thế khóc cùng Tổ Như? Mai sau di od bao giờ. Câu thơ thud trước đâu ngờ hôm nay, (TổHữu - Kính gửi cụ Nguyễn Du) Dấu chấm lửng ở trên vừa có tác dụng thể hiện phan chưa được dẫn hết, cũng vừa có tác dụng thể hiện một ẩn ý, một trạng thái tình cảm mà tác giả không thể diễn đạt bằng lời. Nói tóm lại, dấu câu chiếm giữ một vai trò quan trọng trong việc giúp người viết trình bày những tư tưởng, cảm xúc một cách rõ ring, chính xác, tinh tế và người đọc nhờ đó có thể đọc và hiểu một cách dễ dang.
Các loại đấu câu và quy tắc sử dụng Đối với bất cứ thứ tiếng nào, cách dùng dấu câu là sự quy ước chung của xã hội, hình thành từ những thói quen của người viết trong quá trình lich sử. Trong tiếng Việt, có các loại dấu sau: dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm cảm, dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu ngoặc đơn, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm. dấu ngoặc kép, dấu gạch nối và dấu chấm lửng. Xét về mục đích, dấu câu được người viết sử dụng để giúp cho việc trình bày những tư tưởng và cảm xúc để giúp người đọc dễ dàng hiểu và không bị hiểu lầm.
Trong tiếng Việt - cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác — cuối mỗi câu bao gid cũng có một trong ba dấu: dấu chấm, dấu hỏi và dấu cảm (ngoài ra có thể là dấu chấm lửng hoặc dấu hai chấm). Vd : © Chị di xem phim với em không? | ® Vas - tu au cinéma avec moi? | ¢ Do you go to cinema with me? © Cô ấy dep qua! © Quelle est belle! ® What¿ beautiful woman! Nếu quan sát hàng loạt câu văn, chúng ta sẽ thấy dấu câu được đặt ở những vị trí nhất định một cách có quy tắc (như ba dấu cuối câu nói trên). Đồng thời, có những vị trí, nói chung, không bao giờ thấy đặt dấu câu. Ví dụ: trong nội bộ một cụm từ chính —phu (chỗ có nét gạch chéo): a.
Tùng dị /đến / trường. b, Hai / người / này là chị em. Điều trên đã chứng tỏ rằng những quy ước chung về cách dùng dấu câu của xã hội là có cơ sở khách quan. Những cơ sở đó là gì? Trước hết, ta phải dé cập đến yếu tố “Cấu tạo cú pháp của câu".
Dựa vào sự phân biệt giữa câu này với câu khác và sự phân biệt giữa phần này với phần khác trong câu, về nguyên tắc ta có thể đặt dấu câu ở những vị trí: ~ Sau mỗi một câu. ~ Giữa các phần trong câu: giữa chủ ngữ và vị ngữ, giữa trạng ngữ và các phân phụ khác với phan còn lại của câu, giữa các thành phần ghép và các vế câu ghép không có từ nối, giữa thành phần được nhấn mạnh với phần còn lại của câu. Đó là nguyên tắc, tuy nhiên, việc sử dụng sự cho phép này như thế nào lại là một vấn để hoàn toàn khác. Ví dụ trong tiếng Việt, theo quy ước chung hiện nay thì ta không cần phải đặt dấu câu để ngăn cách chủ ngữ và vị ngữ.
Chú dy / đang hắt say stu, b. CO ấy /là người Tuy Hòa, Điều này cũng dễ hiểu bởi nếu đặt dấu câu giữa chủ ngữ và vị ngữ không có tác dụng làm tránh hiểu lầm. Vì vậy, ở đấy, nếu ta đặt dấu câu sẽ thừa, vô ích.