MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Lịch sử nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu và sưu tầm tài liệu. Ý nghĩa của đề tài. Bố cục của luận văn. Tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận.
Một số xu hướng chính. Danh từ đơn vị tiếng việt. Vấn đề thuật ngữ. Danh từ đơn vị và danh từ khối trong danh ngữ.
Đặc điểm của danh từ đơn vị. NGỮ NGHĨA CỦA NHÓM DANH TỪ ĐƠN VỊ ĐỘNG, THỰC VẬT. Những yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng DĐV. Phân định các sự vật theo “chiều” không gian.
Những định hướng không gian khi mô tả sự vật. Ngữ nghĩa của DĐV động vật. Danh từ đơn vị động vật lâm thời. Danh từ đơn vị động vật chính danh.
Ngữ nghĩa của DĐV thực vật. Danh từ đơn vị thực vật lâm thời. Danh từ đơn vị thực vật chính danh. Một số nhận xét.
Một số ẩn dụ từ DĐV tiếng Việt. Ẩn dụ của danh từ đơn vị động, thực vật. 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 98 PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DK : danh từ khối DĐV : danh từ đơn vị CL : chất liệu ĐV : đơn vị ĐĐ : đếm được HT : hình thức DND : danh từ đơn vị trội về nội dung DHT : danh từ đơn vị trội về hình thức DTĐVQU : danh từ đơn vị qui ước DT : danh từ DN : danh ngữ (*) : không được chấp nhận, không đúng với cách nói của người Việt ± : thế đối lập có/không DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa bốn tiêu chí [± đơn vị],[± đếm được], [± hình thức], [± chất liệu].23 Bảng 2: Tiêu chí phân biệt giữa DHT và DND .24 Bảng 3: Bảng phân loại danh từ đơn vị .25 Bảng 4: Bảng nhiệm vụ của trung tâm danh ngữ theo Nguyễn Tài Cẩn.28 Bảng 5: Cấu trúc danh ngữ của Nguyễn Tài Cẩn .30 Bảng 6: Cấu trúc danh ngữ của Dư Ngọc Ngân .31 Bảng 7: Bảng khảo sát kết quả bầy/đàn trênwww.53 Bảng 8 : Bảng tham tố nghĩa của danh từ đơn vị động vật chính danh .58 Bảng 9: Các tham tố nghĩa của danh từ đơn vị thực vật .86 Bảng 10: Những cách thức ẩn dụ của danh từ đơn vị động, thực vật.
Lý do chọn đề tài Trong tiếng Việt, danh từ chiếm một số lượng lớn. Danh từ có nhiều tiểu loại, mỗi tiểu loại có đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp khác nhau. Trong số những tiểu loại danh từ thì danh từ đơn vị là vấn đề rất thú vị nhưng cũng rất phức tạp. Thú vị vì những từ ngữ đó ta thường xuyên sử dụng trong đời sống, trong giao tiếp nhưng theo phản xạ tự nhiên, nay tìm hiểu được ngữ nghĩa - ngữ pháp của chúng, nên từ đó ta có cách sử dụng đúng, sử dụng hay.
Phức tạp là bởi vì có quá nhiều quan điểm về danh từ đơn vị, có những quan điểm đối lập nhau, có những vấn đề không dễ dàng giải quyết. Do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau nên vấn đề thuật ngữ về chúng cũng chưa thống nhất. Mặt khác, trước đây ngôn ngữ học truyền thống khi nghiên cứu về danh từ đơn vị thường quan tâm đến mặt cú pháp hơn là mặt ngữ nghĩa và tri nhận. Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng ngôn ngữ học ra đời vào những năm 80 của thế kỉ XX với nhiệm vụ trung tâm là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới qua lăng kính ngôn ngữ.
Ngôn ngữ học tri nhận đã giúp người viết trả lời những câu hỏi: Vì sao một đơn vị sự vật lại có thể kết hợp được với nhiều danh từ đơn vị khác nhau? Vì sao chọn dùng danh từ đơn vị này mà không dùng danh từ đơn vị khác? Cái gì cho phép ta tập hợp danh từ đơn vị vào những nhóm khác nhau? Từ đó, người viết hiểu được cách thức mà người Việt dùng các danh từ đơn vị để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể (như: hình dáng, kích cỡ, tư thế) và từ đó xếp loại chúng. Với hai lí do trên, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với hi vọng thông qua góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận ta có thể suy đoán về một cách thức riêng của 2 người Việt trong việc ý niệm hóa, phạm trù hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan. Lịch sử nghiên cứu 2.1 Danh từ đơn vị trong ngôn ngữ học tiền tri nhận Khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, nhà nghiên cứu Việt ngữ nào cũng dành một phần không nhỏ cho từ loại danh từ. Trong từ loại danh từ, người ta không quên nhắc tới danh từ đơn vị.
Từ trước đến nay, danh từ đơn vị được gọi bằng những tên gọi khác nhau: tiền danh từ (Phan Khôi), loại tự (Lê Văn Lý, Trần Trọng Kim, Phạm Tất Đắc), phó danh từ (Nguyễn Kim Thản), loại từ (Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Phú Phong), danh từ chỉ loại (Lê Cận, Quang Thiều, Diệp Quang Ban) và danh từ đơn vị (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Dư Ngọc Ngân, Nguyễn Thị Ly Kha, Lê Ni La). Điều này phản ánh sự phức tạp của loại từ này, đồng thời cũng phản ánh bản chất ngữ nghĩa cú pháp của nó. Đinh Văn Đức cho danh từ đơn vị là hư từ, là lớp từ công cụ rỗng nghĩa, xuất hiện bên cạnh danh từ để phân loại danh từ, cá thể hóa danh từ. Lưu Vân Lăng cho rằng danh từ đơn vị nằm giữa ranh giới hư từ và thực từ, Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban xem nó là thực từ.
Quan niệm về danh từ đơn vị không hoàn toàn đồng nhất. Có bốn khuynh hướng nổi bật sau: 2. Khuynh hướng thứ nhất Khuynh hướng này không nhắc đến thuật ngữ danh từ đơn vị, xem những từ như cái, chiếc, con, quyển, ngôi… là loại từ, là một từ loại tồn tại độc lập bên cạnh những từ loại khác. Khuynh hướng này cho rằng, về bản chất loại từ là hư từ, chuyên đảm đương chức năng phụ trợ cho danh từ.
Loại từ không có ý nghĩa từ vựng, không có khả năng đứng độc lập và chức năng của chúng là cá thể hóa danh từ. Đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này 3 có thể nhắc đến Phạm Tất Đắc, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lê Văn Lý, Nguyễn Kim Thản… Phạm Tất Đắc, Trần Trọng Kim gọi danh từ đơn vị là loại tự. Cả hai ông đều định nghĩa “loại tự là tiếng đặt trước một danh tự để chỉ danh tự ấy thuộc về loại nào”[14, tr26; 25, tr45]. Hai tác giả này chia loại tự thành loại tự chung (gồm con và cái) và loại tự riêng (vốn là những danh tự dùng để chỉ một loại, một giống, một hạng như chim bồ câu, chim chích chòe, chim sáo; người thợ nề, người bù nhìn, người tài xế…).
Có thể thấy hai tác giả này đưa ra danh sách loại từ quá ít ỏi và có những quan niệm nhầm lẫn. Ví dụ như các từ hoa (sen), hoa (đào), hoa (cúc), cá (thu), cá (rô), cá (trê)…cũng được hai ông xem là loại tự. Theo Nguyễn Tài Cẩn, những từ như “hoa sen”, “lá chuối”, “hột dưa” “đều là những từ tổ bình thường, đặt theo quan hệ chính phụ. Yếu tố đầu bao giờ cũng là một danh từ chỉ sự vật, còn giữ nguyên nghĩa gốc của chúng, đúng như khi chúng dùng một mình” [3, tr.
Trong tác phẩm “Sơ thảo về ngữ pháp Việt Nam”, Lê Văn Lý cho rằng từ loại tiếng Việt gồm: tự loại A (danh tự), tự loại B (động tự), tự loại B, (tĩnh tự), tự loại C1 (ngôi tự), tự loại C2 (số tự), tự loại C3 (phụ tự). Theo đó ông đưa ra định nghĩa về loại tự như sau: “loại tự là những chứng tự của tự loại A; chúng cho phép ta nhận định được những tự ngữ nào thuộc tự loại A và đồng thời chúng cũng xếp những tự ngữ đó vào một loại riêng biệt”. Ông chia loại tự thành ba tiểu loại: loại tự cho những danh tự chỉ người, loại tự cho những danh tự chỉ loài vật và loại tự cho những danh tự chỉ sự vật. Bỏ qua bước xác định tiêu chí nhận diện loại từ, ông liệt kê 171 loại từ và miêu tả cụ thể cách dùng chúng.
Không dùng thuật ngữ loại từ nhưng Nguyễn Kim Thản trong tác phẩm “Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” cũng tán đồng quan điểm này. Ông cho rằng những từ như bài, bản, bông, bức, cái, chiếc, con, đứa, tấm…là phó 4 danh từ, luôn đứng phụ cho danh từ, có tác dụng chỉ sự vật riêng lẻ, chỉ đơn vị tự nhiên, nằm giữa ranh giới hư từ và thực từ. Ông định nghĩa “Phó danh từ là những từ chỉ đơn vị tự nhiên của sự vật, phục vụ cho danh từ để cá thể hóa sự vật và có những khả năng kết hợp như danh từ” [47, tr167]. Ông cho rằng: “công dụng ngữ pháp chủ yếu của phó danh từ là làm công cụ ngữ pháp để cá thể hóa danh từ, nghĩa là làm một thứ trợ phụ từ.
Song, phó danh từ còn có khả năng thay thế cho danh từ”. Tuy nhiên chính ông cũng thừa nhận điểm chưa ổn trong quan niệm của mình “Gọi là phó danh từ thì nói chung có thể được nhưng khi chúng chỉ đơn vị động tác thì lại không đủ, bởi vì chúng không làm phó cho danh từ nào cả (ví dụ: tát một cái)” [47, tr165] 2. Khuynh hướng thứ hai Khuynh hướng này cho rằng danh từ đơn vị và loại từ hoàn toàn khác nhau. Đại diện tiêu biểu của khuynh hướng này là Lưu Vân Lăng và Nguyễn Phú Phong.
Lưu Vân Lăng cho rằng “Khi đứng trước một danh từ khác, một số danh từ đơn vị đã mất đi một phần nội dung ngữ nghĩa, chỉ còn lại một phần có tác dụng xác định chủng loại và đơn vị của danh từ đặt sau, nên mới chuyển thành loại từ. Như vậy nó không còn là danh từ đơn vị nữa. Do đó loại từ nhất thiết phải đứng trước danh từ” [32, tr. Danh từ đơn vị, theo ông, phải vừa có “nội dung” vừa có “hình thức”, đứng ở vị trí trung tâm danh ngữ, kết hợp với lượng từ, loại từ, chỉ định từ,…đảm nhận chức năng cú pháp như đề ngữ, bổ ngữ; còn loại từ chỉ là một nhóm nhỏ trong hạn từ, chuyên làm thành tố phụ cho hạt nhân danh từ.