ĐẶT VẤN ĐỀ Triệu chứng thường xuất hiện sớm và phổ biến trong nhiều bệnh lý là viêm và đau, gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Viêm vừa là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại yếu tố gây bệnh, vừa là phản ứng bệnh lý vì quá trình viêm gây ra tổn thương, hoại tử, rối loạn chức năng cơ quan. Khi viêm ở mức độ nặng có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh [4]. Viêm khớp gây đau đớn, tàn phế, giảm năng suất lao động và chất lượng cuộc sống đồng thời làm gia tăng chi phí chăm sóc y tế và gây thiệt hại kinh tế [40].
Sử dụng thuốc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe để điều trị, hỗ trợ điều trị là nhu cầu không thể thiếu nhằm cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Bệnh nhân thường được chỉ định dùng các thuốc chống viêm steroid và không steroid, nhưng khi sử dụng lâu dài có thể gây nhiều tác dụng không mong muốn trên tim mạch, tiêu hóa, thận – tiết niệu và chuyển hóa. Một số thuốc mới đã hạn chế được nhược điểm trên thì giá thành rất cao, gây khó khăn cho chi trả của người bệnh [3], [5], [25], [26]. Một thực tế hiện nay, nhiều cây thuốc, bài thuốc Y học dân tộc đã được ông cha chúng ta sử dụng từ ngàn xưa để chữa bệnh lý xương khớp đem lại hiệu quả cao, lại an toàn, rẻ tiền và dễ áp dụng.
Nhằm khai thác tiềm năng từ thảo dược trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe người bệnh có liên quan đến viêm và đau, viên nang OSVIKO được phát triển với các thành phần chính gồm hy thiêm, độc hoạt, tang ký sinh, cốt toái bổ, dây đau xương, thiên niên kiện …. Theo Y học cổ truyền các dược liệu này có công năng khu phong trừ thấp, chỉ thống, bổ can thận; trong đó, hy thiêm có tác dụng giảm đau, chống viêm trên thực nghiệm [2], [6], [9], [20], [28], [47]. Chế phẩm này được xây dựng với định hướng hỗ trợ giảm triệu chứng viêm, làm chậm quá trình thoái hóa khớp, hỗ trợ tăng khả năng vận động ở người bị bệnh xương khớp, cải thiện tính linh hoạt của khớp, hỗ trợ giảm đau nhức xương khớp, giảm các triệu chứng viêm khớp, đau lưng, mỏi gối. 1 Sản phẩm viên nang OSVIKO được nghiên cứu, phát triển từ các dược liệu đã được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian trong điều trị viêm khớp nhưng chưa có bằng chứng khoa học chứng minh tác dụng, cơ chế tác dụng, hiệu quả điều trị, độ an toàn và tác dụng không mong muốn của sản phẩm.
Vì vậy, để cung cấp bằng chứng khoa học về tác dụng và tính an toàn chế phẩm viên nang OSVIKO, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn “Nghiên cứu đánh giá độc tính cấp, bán trường diễn và tác dụng chống viêm, giảm đau trên thực nghiệm của chế phẩm OSVIKO” với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của viên nang OSVIKO trên động vật thực nghiệm. Đánh giá tác dụng chống viêm, giảm đau của viên nang OSVIKO trên động vật thực nghiệm. TỔNG QUAN VỀ VIÊM VÀ ĐAU THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.
Khái niệm Viêm là một phản ứng của cơ thể tại mô liên kết biểu hiện bằng sự thực bào tại chỗ, có tác dụng loại trừ tác nhân gây viêm và sửa chữa tổn thương; đồng thời kèm theo những biểu hiện bệnh lý. Khi động vật tiến hóa đến giai đoạn xuất hiện hệ tuần hoàn thì viêm bao giờ cũng kèm theo thay đổi mạch máu, với sự tham gia của thần kinh, nhằm đưa các tế bào thực bào tới vị trí diễn ra phản ứng viêm. Viêm vừa là một phản ứng bảo vệ cơ thể chống lại yếu tố gây bệnh, vừa là phản ứng bệnh lý vì quá trình viêm gây ra tổn thương, hoại tử, rối loạn chức năng cơ quan. Khi viêm ở mức độ nặng có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người bệnh [4], [5].
Nguyên nhân Nguyên nhân gây viêm có thể xếp thành hai nhóm lớn [3], [4]. * Nguyên nhân bên trong: - Do hoại tử tổ chức, lấp quản, nhồi máu, chảy máu trong lan rộng… - Lắng đọng các phức hợp miễn dịch (có hoạt hóa bổ thể) (phức hợp kháng nguyên - kháng thể) như viêm cầu thận, viêm trong hiện tượng Arthus. * Nguyên nhân bên ngoài: - Cơ học: Từ sây sát nhẹ tới chấn thương nặng. - Vật lý: Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp làm thoái hóa protid tế bào gây tổn thương enzym; các tia xạ vì tạo ra các gốc oxy tự do gây phá hủy một số enzym oxy hóa, còn gây tổn thương ADN.
- Hóa học: Các chất hóa học gây hủy hoại tế bào hoặc phong bế các hệ enzym chủ yếu. - Sinh học: Là nguyên nhân phổ biến nhất, gồm: virut, vi khuẩn, nấm. Phân loại Có nhiều cách phân loại, mỗi cách đưa lại một lợi ích riêng [3], [4]: - Theo vị trí: Viêm nông, viêm sâu. - Theo nguyên nhân: Viêm nhiễm khuẩn và viêm vô khuẩn.
- Theo dịch rỉ viêm: Viêm thành dịch, viêm tơ huyết, viêm mủ. - Theo diễn biến: Viêm cấp và viêm mạn. Giai đoạn cấp tính gồm những hiện tượng về mạch máu và một số phản ứng tế bào xuất hiện sớm. Giai đoạn mạn tính gồm những hiện tượng phức tạp, là sự phối hợp của những hiện tượng viêm và những quá trình sửa chữa.
Những thay đổi tại tổ chức viêm Những rối loạn chủ yếu của viêm bao gồm 3 loại hiện tượng đồng thời tồn tại và liên quan chặt chẽ với nhau: Tổn thương tổ chức và rối loạn chuyển hoá. Rối loạn tuần hoàn và vi tuần hoàn. Tăng sinh các tế bào tổ chức liên kết [4]. * Tổn thương và rối loạn chuyển hóa tại tổ chức viêm Tại ổ viêm có tăng quá trình oxy hóa, pH giảm dần kéo theo những rối loạn chuyển hóa của glucid, lipid và protid [4].
- Rối loạn chuyển hóa glucid: Glucid là nguồn năng lượng chủ yếu để thực hiện phản ứng viêm. - Rối loạn chuyển hóa lipid: Chuyển hóa yếm khí glucid kéo theo rối loạn chuyển hóa lipid. Tại ổ viêm lượng acid béo, lipid và thể cetonic đều tăng cao. - Rối loạn chuyển hóa protid: Chuyển hóa protid tăng do hoạt tính cao của enzym protease và của TNF, song cũng không hoàn toàn.
Tại ổ viêm thường có hai loại tổn thương: tồn thương tiên phát do nguyên nhân gây viêm tạo ra và tổn thương thứ phát do những rối loạn tại ổ viêm gây nên. Tổn thương tiên phát có thể gây tổn thương nhỏ hoặc lớn gây hoại tử tế bào ít nhiều. Tổn thương thứ phát phụ thuộc không những vào cường độ của nguyên nhân mà còn mức độ phản ứng của cơ thể. Phản ứng của mạch máu, các tế bào thực bào, của sự hình thành dịch rỉ viêm.
4 * Rối loạn tuần hoàn và vi tuần hoàn trong tổ chức viêm Sau khi được sinh ra, các hóa chất trung gian lại đóng vai trò như những tác nhân gây viêm mới, gây ra những tổn thương tổ chức, rối loạn tuần hoàn và chuyển hóa tiếp theo. Do các chất trung gian có tác dụng như sau: - Trước tiên là phản ứng gây co các tiểu động mạch - Gây giãn mạch tại chỗ, làm tăng cường tuần hoàn đến chỗ viêm tạo thuận lợi cho bạch cầu xuyên mạch và tăng thoát dịch từ lòng mạch vào tổ chức kẽ để hòa loãng các tác nhân gây viêm. Hiện tượng giãn mạch làm vùng viêm đỏ, thoát dịch viêm gây phù nề sưng tấy tại chỗ. - Thu hút các bạch cầu đến chỗ viêm gọi là tác dụng hóa ứng động bạch cầu, đây là tác dụng có lợi để tăng cường quá trình chống viêm, loại trừ các tác nhân gây viêm và hồi phục tổn thương viêm.
- Làm tăng quá trình chuyển hóa tại chỗ, do đó làm tăng nhiệt độ tại ổ viêm làm cho ổ viêm nóng hơn các vùng khác. Nhiệt độ tại ổ viêm tăng làm tăng hiện tượng giãn mạch, tăng khả năng di chuyển và thực bào của bạch cầu. - Gây đau: Do kích thích các tận cùng thần kinh như các prostaglandin, kinin. Ngoài ra đau còn do dịch phù viêm gây sưng và chèn ép vào các tận cùng thần kinh.
Đau có tác dụng thông báo cho thần kinh trung ương biết đang có tổn thương tại chỗ viêm. - Thành phần của dịch rỉ viêm bao gồm huyết tương và các tế bào viêm, các tế bào hoại tử, và các tác nhân gây viêm. Dịch rỉ viêm còn có cả fibrinogen, khi ra khỏi lòng mạch, fibrinogen sẽ chuyển thành fibrin và tạo thành một hàng rào bao quanh ổ viêm có tác dụng ngăn cản sự phát triển của ổ viêm. Trong giai đoạn này xảy ra hiện tượng xuyên mạch và thực bào của bạch cầu: các bạch cầu sẽ di chuyển theo kiểu amib chui qua thành mạch và tổ chức để đến ổ viêm do ảnh hưởng của các chất hóa ứng động như leucotaxin, necroxin.
Các bạch cầu xuyên mạch gồm: Đại thực bào (Mastocyt - M), Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil - N), Bạch cầu ái toan (Eozinophil - E), Bạch cầu lympho (Lymphocyt - L) [1], [4]. 5 * Tăng sinh các tế bào tổ chức liên kết Các tác nhân gây viêm và các chất trung gian giảm, rối loạn tuần hoàn và chuyển hóa giảm. Một số sản phẩm viêm có tác dụng kích thích phân bào làm tăng sinh tế bào ở khu vực viêm, tăng sinh tổ chức liên kết, tăng sinh các mao mạch và tổ chức hạt. Tổ chức hoại tử ở giai đoạn trước được thay thế bởi một tổ chức mới được hình thành.
Các rối loạn chủ yếu trong viêm thường không diễn biến riêng biệt mà phát sinh đồng thời và có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một chuỗi phản ứng phức tạp [1], [4]. Các mô hình đánh giá tác dụng chống viêm trên động vật thực nghiệm 1.Các mô hình nghiên cứu tác dụng chống viêm cấp: a. Mô hình gây phù bàn chân chuột[29] Nguyên tắc: tác nhân gây viêm (carrageenan, kaolin, dextran…) khi tiêm vào bàn chân chuột sẽ kích thích giải phóng các chất trung gian hóa học gây viêm như histamin, serotonin, prostaglandin… gây giãn và tăng tính thấm thành mạch dẫn đếngây phù bàn chân chuột. Các thuốc có khả năng ức chế phù bàn chân chuột được coi là có tác dụng chống viêm.
Tiến hành: gây phù bàn chân sau của chuột bằng cách tiêm dưới da ở bề mặt gan bàn chân sau của chuột tác nhân gây viêm.