Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới và ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc trên thế giới Trải qua nhiều thế kỷ, cây thuốc giữ vai trò trọng yếu trong việc duy trì sức khỏe và hạnh phúc của các cộng đồng người trên khắp thế giới.
Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên nền dược thảo mang nét đặc trưng riêng. Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã có từ lâu đời. Nhiều quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản.) đã chú ý đến việc sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh.
Trong lịch sử nhiều danh y kiệt xuất đã xuất hiện với những nghiên cứu về đa dạng cũng như tính năng chữa bệnh của cây thuốc. Tuy nhiên những tài liệu cổ về cây thuốc còn lại không nhiều. Năm 2838 trước công nguyên (TCN) có thể coi là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc và dược liệu [24]. Trong các xã hội tối cổ, bệnh tật được cho rằng là do sự trừng phạt của trời hoặc do các thế lực siêu nhiên gây ra.
Thầy lang đã chữa bệnh bằng những lời cầu nguyện và nghi lễ có sử dụng cây cỏ. Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn bởi màu sắc, mùi, hình dạng hay sự hiếm của chúng. Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm, học tập, trải qua nhiều thế hệ. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng cây cỏ làm thuốc như Cỏ thi, Cúc bạc… Người dân bản xứ Mexico từ nhiều năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay người ta biết chứa các chất gây ảo giác, kháng sinh [30].
Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3600 năm trước với 800 bài thuốc và trên 700 bài thuốc có Lô 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội, Kỳ nham, Gai dầu…Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc Châu Phi có ít nhất từ 3000 năm trước [30]. Vào giữa thế kỉ XIII, nhà thực vật học El. Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc từ Bắc Phi. Gần đây nhiều tác giả công bố công trình nghiên cứu thực vật ở Châu Phi, tiêu biểu là công trình “An ethnobotanical and flonistical study of mdicinal plants among the bakepygmies in the periphery of the Ipassa- Biosphere Reserve, Gabon” của nhóm tác giả Jean lagarde Betti và cộng sự trên tạp chí thực vật làm thuốc Châu Âu đã thống kê được 71 loài thực vật ghi nhận điều trị 24 nhóm bệnh khác nhau [dẫn theo 17].
Ở Trung Quốc, dược thảo phát triển là một phần của văn hóa Trung Hoa. Cuốn “Kinh Thần Nông” đã nghi chép 364 vị thuốc. Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay [19]. Năm 1595 (TCN) Lý Thời Trân (Trung Quốc) viết quyển “Bản thảo cương mục”, đây là bộ sách vĩ đại nhất của Trung quốc về cây thuốc.
Ông đã mô tả và giới thiệu 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [24]. Nằm trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu các tài liệu về thực vật và dược học đã tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á, “Medicinal plants of East and Southeast Asia”. Ngày nay, ước lượng có từ 35.000 loài trong số 25.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh khắp nơi trên thế giới. Trong đó, Trung Quốc có hơn 10.500 loài, Malaysia: 2000 loài, Nepal: hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài.
Nhiều loài cây thuốc đã được thuần dưỡng và trồng trọt lâu đời tại các trung tâm đa dạng sinh học cây trồng trên thế giới như: Gai dầu, Thuốc phiện, Nhân sâm, Đinh hương, Bạc hà… [5]. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới WHO, ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển với dân số, 3,5 đến 4 tỷ người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào nền y học cổ truyền, phần lớn phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc chất chiết xuất từ dược liệu. Ở Trung Quốc, nhu cầu cây thuốc là 1.000 tấn/năm, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD và thống kê được có khoảng 1000 loài cây thuốc được sử dụng thường xuyên. Doanh số thị trường thuốc dược liệu của Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Nhật Bản đạt 1,1 tỷ USD (2006), Châu Âu đạt 4,55 tỷ Euro (2004).
Tính trên toàn thế giới, hàng năm doanh thu ước đạt trên 80 tỷ USD. Điều này chứng tỏ dược liệu từ cây thuốc có giá trị kinh tế to lớn hơn bất kì cây lương thực, thực phẩm nào. Đã có 119 chất tinh khiết được tách chiết từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng trên toàn thế giới trong đó có 74% chất có mối quan hệ hay càng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng như Theophylin từ Chè, Reserpon từ cây Ba gạc, Rotudin từ Bình vôi [5]. Ở Trung Quốc từ 1979 -1990 đã có 42 chế phẩm từ cây thuốc đưa ra thị trường, trong đó có 11 chế phẩm chữa bệnh tim mạch, 5 chế phẩm chữa bệnh ung thư, 6 chế phẩm chữa bệnh đường tiêu hóa.
Dự đoán phát triển cây cỏ từ các nước nhiệt đới có thể làm ra 900 tỉ USD mỗi năm cho các nước thế giới thứ 3 [30]. Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, ngày nay các sản phẩm từ cây cỏ không chỉ dừng lại làm thuốc chữa bệnh mà nhiều công ty, nhà sản xuất đã có hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm, hương liệu, các chất kháng khuẩn nguồn gốc từ cây cỏ hoang dại… 1. Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam Ở nước ta, việc sử dụng cây cỏ để làm thuốc đã có từ lâu đời. Có thể nói ngay từ thời nguyên thủy tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra nhiều loài cây có công dụng làm thuốc.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới triều vua Lý (1010 - 1244) có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) đã có công chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông. Nhà Lý đã giao thương với Trung Quốc qua Tống Duy Tông để trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc [12]. Dưới thời nhà Trần (1244 - 1399) các tướng lĩnh cũng đã xây dựng kế hoạch tự túc thuốc Nam cho kháng chiến chống ngoại xâm. Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo - Chí Linh - Hải Dương) để cung cấp cho quân y [12].
Năm 1429 Phan Phu Tiên biên soạn cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu”. Đây là tập tài liệu đầu tiên về cây thuốc và dược liệu của Việt Nam. Trong thời kỳ này còn xuất hiện nhà sư, danh y nổi tiếng Tuệ Tĩnh (Nguyễn Năng Tĩnh), ông được phong là ông tổ của ngành dược Việt Nam. Với phong trào trồng thuốc ở gia đình và phương châm “Thuốc nam chữa bệnh người Nam”, ông đã có công to lớn trong việc xây dựng quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam.
Trong nghiên cứu dược liệu, ông đặt cây cỏ lên trước Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ngược với cách sắp xếp của Trung Quốc. Ông đã truyền bá y học cổ truyền rộng rãi trong nhân dân qua nhiều tác phẩm khác nhau. “Nam dược thần hiệu” gồm 499 vị và 3932 phương thuốc trị 184 loại bệnh chia làm 10 khoa (1725) là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông. “Các bài thuốc Nam và thập tam phương gia giảm” chép 13 cổ phương với bổ âm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo chứng.
Các tài liệu này được in trong cuốn “Nam dược chính bản”. Sau này thời hậu Lê in lại trong cuốn “Hồng Nghĩa giác y thư” (1717 và 1723) và được lưu truyền cho tới ngày nay [12]. Thế kỷ thứ XIII có Hải Thượng lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo” nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm 300 vị nữa. Tư liệu vĩ đại nhất của ông là “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển, viết về lý luận cơ bản, phương pháp chẩn đoán, trị bệnh [3].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài những tác phẩm trên còn phải kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập (1763). Tập “Nam bang thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả hơn 100 loài cây thuốc Nam (1858). Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian. Vào thời Pháp thuộc (1848 - 1845) đã có những công trình nghiên cứu cây thuốc Việt Nam của nhiều nhà thực vật học Việt Nam và Pháp.
Trong đó tiêu biểu là bộ “Trung Việt dược tích hợp biên” của Đinh Nho chân với 1600 vị thuốc Nam Bắc.Petelote đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc của Campuchia, Lào, Việt Nam” gồm 4 tập [12]. Cách Mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích việc nghiên cứu và sử dụng thuốc Nam. Từ đó đến nay đã có nhiều tác giả đi sâu, tìm tòi nghiên cứu phát hiện những giá trị mới của cây thuốc. Qua điều tra nghiên cứu dưới sự chủ trì của Viện Dược liệu (ở miền bắc) và phân Viện dược liệu thành phố Hồ Chí Minh (ở miền nam) kết hợp với các trạm dược liệu ở hầu hết các tỉnh thành phía Nam từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào, kết quả ghi nhận được cho đến năm 2005 trong cả nước có 3948 loài cây thuốc thuộc 1572 chi và 307 họ thực vật.
Trong số đó có trên 90% là cây hoang dại [35]. Bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi (1962- 1965, 1969-1970) [22], đã giới thiệu gần 1000 cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam. Bộ sách “Cây thuốc Việt Nam” của lương y Lê Trần Đức (1997) [10] có ghi 830 loài cây thuốc, mô tả đầy đủ hình thái, phân bố, cách trồng và thu hái cũng như bộ phận sử dụng.