MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nấm là nhóm các sinh vật được ước tính lớn thứ hai sau nhóm côn trùng. Nấm có mặt ở mọi nơi - trong đất, không khí, trong nước hồ, sông, biển, trên thực vật và động vật, thực phẩm và quần áo, và cả trên cơ thể con người. Hiện nay khu hệ nấm lớn ở Việt Nam đã ghi nhận được 1821 loài [21].
Trong đó có nhiều loại được sử dụng làm dược liệu điều trị bệnh hiểm nghèo. Cùng với vi khuẩn, nấm chịu trách nhiệm phá vỡ các cấu trúc của các chất hữu cơ và giải phóng car on, oxy, nitơ, phốt pho vào môi trường. Nấm làm biến đổi môi trường sống của con người và không thể thiếu được với nhiều vai trò trong hệ sinh thái. Nấm tham gia quá trỉnh hình thành đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất (phân hủy gỗ, thân, lá cây, xác côn trùng,…), tăng cường sự phát triển của cây.
Nấm có thể gây ngộ độc, ký sinh trên cơ thể con người, động vật và thực vật nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và nhiều bệnh hiểm nghèo. Dựa trên cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm có ý nghĩa to lớn và ngày càng được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nấm có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống con người, đây là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng ví dụ như Termitomyces albuminosus, Macrocybe gegantea và là nguồn thức ăn quý được nhân dân ưa chuộng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D, E. Nhiều loài nấm được ứng dụng trong công nghiệp dược phẩm, là nguồn nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị ệnh như: Laricifomes officinalis là nguyên liệu để chiết aragicin dùng trong chữa ệnh lao hoặc dùng làm thuốc nhuận tràng hay chất thay thế cho quinine.
Các chế phẩm từ nấm linh chi (Ganoderma) được Luan van 2 dùng để hỗ trợ điều trị nhiều ệnh như ệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thư, AIDS. Trong quả thể của Ganoderma lucidum có các hoạt chất khác nhau có hoạt tính kháng virus. Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của virus HIV. Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao và được sử dụng trong điều trị ung thư gồm ung thư phổi, ung thư vú, ung thư dạ dày.
Các dẫn xuất adenosine có trong Ganoderma capense và G. amboinense có tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu. Nhiều hoạt chất từ Linh chi có khả năng giúp đào thải phóng xạ, hạn chế và loại trừ những tổn thương do phóng xạ ở mô và tế ào. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với cấu trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, những kiểu sinh thái khác nhau… Những điều kiện đó đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ nấm ở Việt Nam.
Tác giả Hawksworth ước tính số loài nấm trên lãnh thổ Việt Nam có thể gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao (1991-2001) và đạt khoảng 70. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta mới ghi nhận được khoảng 1/5 số loài nấm có thể có trên lãnh thổ Việt Nam. Các khu rừng quốc gia tại miền Bắc là kho tài nguyên quý giá, nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài động, thực vật đặc hữu quý hiếm, là nơi dự trữ, bảo tồn và phục hồi các nguồn gen phục vụ cho nghiên cứu khoa học, học tập cho các nhà khoa học và sinh viên trong nước cũng như quốc tế. Rừng nơi đây c n có nhiều loài cây thuốc, vi sinh vật quý hiếm, là nguồn dược liệu hữu ích cho nhân dân quanh vùng, trong đó có nấm linh chi Ganoderma.
Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn của nấm linh chi [4], nhưng số lượng vẫn còn khá ít. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của một số loài thuộc chi nấm Ganoderma”. Luan van 3 Đề tài đóng góp vào cơ sở dữ liệu và có ý nghĩa giúp cho việc bảo tồn và lưu giữ đa đạng nguồn gen có khả năng kháng khuẩn phục vụ cho các nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được tính kháng khuẩn của một số loài thuộc chi nấm Ganoderma phục vụ cho công tác bảo tồn loài nấm có giá trị để bổ sung vào danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên ảo vệ.
Nội dung nghiên cứu 3. Phân loại các mẫu nấm nghiên cứu - Mô tả đặc điểm hình thái bên ngoài; - Soi hệ sợi dưới kính hiển vi; - Phân loại loài dựa trên các đặc điểm mô tả. Phân lập và nuôi cấy chi nấm Ganoderma - Thu nhận mẫu nấm từ khu vực VQG Xuân Sơn, VQG Tam Đảo, trạm ĐDSH Mê Linh; - Phân loại sơ ộ và tách cấy hệ sợi nấm trên môi trường PDA. Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của một số loài thuộc chi nấm Ganoderma - Xác định tính kháng khuẩn của dịch nuôi cấy hệ sợi, dịch chiết thể quả nấm Ganoderma đối với một số vi khuẩn gây bệnh (Escherichia coli, Bacillus subtilis, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa); - Xác định tính kháng khuẩn của sinh khối nấm Ganoderma đối với một số vi khuẩn gây bệnh (Escherichia coli, Bacillus subtilis, Vibrio parahaemolyticus, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa).
Đề xuất phương pháp bảo tồn đối với một số loài thuộc chi nấm Ganoderma nghiên cứu Luan van 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu nấm Ganoderma 1. Tình hình nghiên cứu nấm Ganoderma trên thế giới Từ xa xưa, nấm đã mang lại nhiều giá trị to lớn trong cuộc sống con người. Theo Đào Ẩn Tích, tác giả bộ sách về lược sử Trung Quốc, người Trung Quốc đã iết ăn nấm từ cách đây 6000-7000 năm.
Nghề nấu rượu có sử dụng nấm men và nấm sợi đã xuất hiện ở Trung Quốc từ cách đây 7000-8000 năm. Việc sử dụng nấm lớn làm dược liệu (Thần khúc) đã có ở Trung Quốc từ cách đây 2550 năm. Các nấm dùng làm thuốc như Phục linh, Chư linh, Linh chi, Tử linh, Lôi hoàn, Mã bột, Thiền hoa, Trùng thảo, Mộc nhĩ…đã được ghi trong sách “Chính loại bản thảo” khoảng năm 100-200 sau Công nguyên [2]. Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, các nhà nghiên cứu đã kết hợp phân loại truyền thống với phân loại dựa trên những tiêu chuẩn hiện đại như: các phản ứng hóa học, sự phân tính, hệ sợi nấm, kiểu gây mục, đặc điểm nuôi cấy, mà đặc biệt là cấu trúc phân tử ADN đã mang lại những kết quả chính xác hơn.
Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) từ lâu đã được xem như là một loại dược liệu quý giá với nhiều tác dụng tốt như chữa suy nhược thần kinh, các bệnh tim mạch, điều hòa huyết áp, làm giảm lượng đường và cholesterol trong máu, tác dụng chống oxy hóa, bảo vệ gan, kích thích miễn dịch, tác dụng tốt với bệnh nhân bị ung thư. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã định danh được các hoạt chất và xác định tác dụng dược lý của nấm Linh chi như: Germanium, acid ganoderic, acid ganodermic, acid oleic, ganodosteron, ganoderans, adenosin, beta-D-glucan, (đặc biệt trong nấm Linh chi, có hàm lượng germanium cao hơn trong nhân sâm đến 5 - 8 lần) [26]. Luan van 5 Năm 2011, Ofodile Lauretta Nwanneka cùng cộng sự ở Nigeria đã nghiên cứu ảnh hưởng của hệ sợi nấm Ganoderma đối với vi khuẩn gây bệnh ở người. Khi đó hệ sợi của các mẫu nấm Linh chi được tìm thấy ở Nigeria đã được thử nghiệm trên một số vi khuẩn gây bệnh ở người bằng việc sử dụng kỹ thuật kép và Weller.
Các mẫu nấm thể hiện hoạt tính kháng lại tất cả các vi sinh vật kiểm định gồm Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa. Vi khuẩn Escherichia coli cho thấy độ mẫn cảm cao nhất đối với sợi nấm với đường kính vòng vô khuẩn đạt 10,6mm vào ngày đầu tiên thí nghiệm và tăng lên 15,2mm vào ngày thứ tư bằng cách sử dụng phương pháp kép, trong khi Pseudomonas aeruginosa cho thấy độ kháng ít nhất chỉ 5,7mm vào ngày thứ tư. Trong phương pháp Weller, sự kháng khuẩn của nấm linh chi ức chế hoàn toàn được ghi nhận từ tất cả đĩa. Đây có thể là một dấu hiệu cho thấy Ganoderma lucidum có thể được sử dụng trong điều trị các bệnh gây ra bởi các sinh vật này cũng như các iện pháp phòng ngừa chống lại chúng [30].
Năm 2016, một nghiên cứu so sánh hoạt tính kháng khuẩn của nấm phân hủy gỗ và các loại kháng sinh được tạp chí của Hiệp hội Dược phẩm Bangladesh đăng tải cho thấy dịch chiết xuất của 3 loại nấm Ganoderma lucidum, Auricularia auricula, Pleurotus florida có hoạt tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Auricularia auricula Pleurotus florida thể hiện một số hoạt tính kháng khuẩn trong khi Ganoderma lucidum cho thấy không có khả năng kháng khuẩn [23]. Các nhà khoa học Debendra Nath Roy, A. Azad, Farzana Sultana, A.
Anisuzzaman đã nghiên cứu thành công hoạt tính kháng khuẩn trong ống nghiệm của hai loại nấm ăn được là Linh chi (Ganoderma lucidum) và hàu (Pleurotus ostreatus) chiết xuất trong dung môi ethyl acetate năm 2016. Tác dụng chống vi khuẩn của cả hai loại nấm được theo dõi với liều lượng 400 μg/đĩa ằng phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch đối với năm Luan van 6 loài vi khuẩn gram dương, năm loài vi khuẩn gram âm và ba loại nấm. Nghiên cứu cho thấy rằng chiết xuất từ Pleurotus ostreatus có tác dụng vừa phải và Ganoderma lucidum chỉ có tác dụng kháng khuẩn nhẹ so với Kanamycin (30 g/đĩa). Tuy nhiên, cả hai loại nấm này đều không có hoạt tính kháng nấm đối với nấm kiểm định so với thuốc Nystatin với liều lượng 30 g/đĩa [27].
Gần đây tại Thái Lan, một nhóm các nhà khoa học vừa công bố nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn, điều kiện nuôi cấy tối ưu nấm Linh chi G. Chiết xuất của G. australe ức chế Micrococcus luteus, Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus và Salmonella typhimurium, tuy nhiên các chất chiết xuất không kháng lại Escherichia coli và Pseudomonas aeruginosa. Đây là áo cáo đầu tiên về các hoạt động kháng khuẩn được tìm ra ở G.
Nấm Linh chi được nuôi trồng nhân tạo với quy mô lớn tại Hàn Quốc. Ngoài phương pháp nuôi trồng trên thân gỗ, trên các bịch phụ phẩm nông lâm nghiệp đã nghiền nhỏ, còn có thể nuôi cấy chìm để thu nhận sinh khối trong các nồi lên men. Tình hình nghiên cứu nấm Ganoderma ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân đã iết dùng nấm làm dược phẩm và thực phẩm thiết yếu trong đời sống.