CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tiếp xúc ngôn ngữ Tiếng Nhật là ngôn ngữ duy nhất của nước Nhật. Số lượng người bản địa sử dụng tiếng Nhật đã vượt xa các ngôn ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Pháp, và được xếp thứ sáu trên thế giới sau tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Hindu. Mặc dù tiếng Nhật là ngôn ngữ có vị trí quan trọng trên thé giới, với bề dày lịch sử bắt đầu từ thé ky thứ VIII, nhưng hiện nay có nhiều truyền thuyết về tiếng Nhật, thậm chí một số truyền thuyết còn được cả người Nhật Bản và người nước ngoài ghi nhớ rõ.
Yếu t6 chính góp phân tạo nên sự đa dạng cho các truyền thuyết về tiếng Nhật là sự cô lập. Không giống các ngôn ngữ được sử dụng ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á, tiếng Nhật bị tách biệt về mặt địa lý với các ngôn ngữ khác, do vậy có thời ky bản thân nó không nhận được sự tiếp xúc ngôn ngữ nào. Về cơ bản, tiếng Nhật chỉ được dùng trên lãnh thé Nhật Bản, không một quốc gia nào sử dụng tiếng Nhật như ngôn ngữ chính thức, hoặc ngôn ngữ thứ hai, ngoài một số ít nhóm người di cư đến Hawaii, Bắc và Nam Mỹ [190; 89]. Mặc dù vậy người Nhat luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ độc đáo.
Liệu tiếng Nhật có phải là một ngôn ngữ độc đáo hay không? Dé có lời giải đáp thích đáng cho câu hỏi này, chúng ta còn phải bàn luận nhiều về nguồn gốc ngôn ngữ của nó. Xét về mối quan hệ các từ nguyên, so với các ngôn ngữ khác, tiếng Nhật đặc biệt ở chỗ lớp từ nguyên của nó không có nguồn gốc rõ ràng. Nó có thể được sinh ra từ sự pha trộn, kết hợp giữa hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ, điều này đối lập với các ngôn ngữ chính khác trên thế giới bởi lớp từ nguyên của nó lại được phát triển bằng cách tách ra từ ngôn ngữ mẹ. Từ góc nhìn bao quát hơn, tính độc đáo của tiếng Nhật có thé 10 được thể hiện qua vô số mã ngôn ngữ.
Thứ nhất, hệ thống chữ viết trong tiếng Nhật cho phép sử dụng bốn loại chữ khác nhau để cùng miêu tả một khái niệm, đó là = Kanji/ Hán tự, U5 2572 Hiragana, 2Ö # 2Ö + Katakana, và chữ Romaji/ chữ La Mã. Trong phạm trù từ vựng học, những xu hướng vay mượn từ liên tiếp đã dẫn đến sự ra đời một số lượng lớn các từ sinh đôi, sinh ba cùng gốc được hợp thành bởi một từ bản địa, từ Hán - Nhật, và từ thuộc ngôn ngữ châu Âu. Thành tựu chính của tiếng Nhật trong thời kỳ Nara 8 (710 ~ 794) và đầu thời ky Heian 12 (794~1185) là sự tiếp nhận hệ thống chữ viết mới. Dựa trên những ứng dụng của chữ Hán, hệ thong chữ viết tiếng Nhật đã có sự phát triển trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ nghĩa.
Hệ thống chữ viết ngày nay chính là kết quả của việc đơn giản hóa các nét chữ Hán nguyên bản. Ngoài việc sử dụng chữ Hán nguyên bản, tiếng Nhật còn phát triển thêm hai hệ vần. Dạng viết tắt của chữ Hán chính là chữ viết thảo. Chữ viết thảo là cơ sở phát triển hệ vần U5 2878 Hiragana.
Hệ vần 2 Z 9+ Katakana được tạo ra từ những bộ phận của #'# Kanji/ chữ Hán. Gan đây, ban thân chữ Hán cũng được đơn giản hóa, tạo nên nét khác biệt so với chữ Hán ban đầu. Hơn nữa, việc sử dụng dạng chữ Hán viết tắt ở Trung Quốc cũng hình thành nên những bộ chữ Hán khác nhau. Nói đến giao thoa văn hóa là nói đến quá trình trao đôi, vay mượn các yêu tô văn hóa và ngôn ngữ.
Tiếng Nhật cũng không nằm ngoài quy luật này, bởi nó vay mượn một SỐ lượng lớn từ vựng của tiếng Hán. Sự vay mượn có hệ thống này diễn ra theo ba khuynh hướng mặc dù những sự vay mượn rời rac trước đó đã dé lại những từ thâm căn có dé trong tiếng Nhật như 5 = uma (ngựa), 3% ume (man). Lan sóng vay mượn thứ nhất xảy ra trước thời kỳ Nara khi Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản năm 538. Cách phát âm theo âm #?? Goon/ Ngé âm đã góp phần vào sự hình thành cho làn sóng vay 11 mượn giai đoạn này.
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rang âm !#‡# Goon/ Ngô âm được mô phỏng theo ngôn ngữ thuộc miền nam Trung Quốc thời cổ đại [189; 926]. Vì vậy âm #?? Goon/ Ngô âm chính là sự phản ánh, mô phỏng cho tiếng địa phương ở miền này. Làn sóng vay mượn từ Hán thứ hai diễn ra suốt thời kỳ Nara khi nhiều sinh viên và quan chức tòa án đến học tập ở Lạc Dương và Trường An - hai thành phố lớn của triều đại nhà Đường. #77 Kanon/ Hán âm là cách phát âm mới được du nhập vào tiếng Nhật trong suốt thời kỳ này và được đánh giá là âm chuẩn của thời nhà Đường thế kỷ thứ VIII.
Sau đó, tiếp đến thế ky XIV, tiếng Nhật được tiếp xúc với một loạt từ vựng mới và cách phát âm do các tín đồ phái Thiền của Phật giáo mang lại. Sự phát âm mới này có xuất xứ từ Hang Chau, với tên gọi F#?? Touon/ Đường âm - & TF Souon/ Tong âm. oe Trong khi một số chữ có ba cách đọc phản ánh ba phương thức vay mượn thi hau hêt các từ còn lại được phat âm theo lôi 27% Goon hoac/va HE Touon - 2# Souon. Hơn nữa, mỗi một kiểu phát âm lại mang nét khác biệt là do chúng được sinh ra từ các phái học giả khác nhau.
Phát 4m Goon thuộc dòng Phật giáo, ?#ï#Z Kanon thuộc đạo Khổng và các học giả bình dân, còn phát âm J#?? Touon - 4% Souon lại do phái Thiền đạo Phật tạo ra [190; 121]. Tuy nhiên đây chỉ là các yếu tố mang tính chất lịch sử, nói chung người Nhật không quan tâm lắm tới nguồn gốc của các cách phát âm này. Tiếng Nhật vay mượn tiếng Hán một cách chủ động, làm thành vốn từ ia Kango/ Hán Nhật va đọc theo cách đọc riêng - gọi là cách đọc RH Onyomi. Trong thời gian dài hàng thé ky, Nhật Bản có quan hệ với Trung Quốc nên đã tiếp thu những ảnh hưởng rất lớn về văn hóa của Trung Quốc.
Một trong những dấu an của ảnh hưởng này là sự tồn tại của lớp từ gốc Hán #š3# Kango (hay còn gọi là từ Hán Nhật) chiếm hơn 60% vốn từ tiếng Nhật. Rồi từ 12 cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với việc mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại, kỹ thuật với các nước châu Âu, từ ngữ nước ngoài (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan.) cũng nhanh chóng du nhập vào tiếng Nhật, tạo nên một lớp từ đặc biệt gọi là từ ngoại lai 402K a Gairaigo. Do vậy, hiện nay về co bản, vốn từ tiếng Nhật gồm có 3 lớp từ: từ thuần Nhat #12 Wago chiếm khoảng 27%, từ Han Nhật #*§ Kango chiếm khoảng 60% và từ ngoại lai 43K #8 Gairaigo chiếm khoảng 13%. a) Lớp từ thuần Nhật #lã# wago Đây là lớp từ tạo nên vốn từ cơ bản của tiếng Nhật.
Các từ gốc Nhật được chia làm 2 tiêu nhóm: tiểu nhóm thực từ (mang nghĩa từ vựng) và tiểu nhóm hư từ (thực hiện các chức năng ngữ pháp). Trong tiêu nhóm thực từ có các từ thuộc loại danh từ, chủ yếu là các từ biểu thị khái niệm cụ thé như = yama nui, 2kawa sông, 9 4umi bién., các động từnhư 424 kangaeru suy nghi, 35 taberu dn, #9 narau hoc ., các tính từ như b?xvvchikai gần, >‡3vvtooi xa, 7D takai cao, œ<vvhikui thấp, ‡3v\vLv*oishii ngon. Tat cả các từ biểu thị các kiêu ý nghĩa ngữ pháp như trợ từ, từ nối, trợ động từ. đều là từ gốc Nhật.
b) Lớp từ Hán Nhat 2a kango Đây là những từ có nguồn gốc Hán, được gọi là ÿ#3# kango hoặc từ Hán Nhật. Ngày nay, vai trò của lớp từ này vẫn cực kỳ quan trọng, trở thành một bộ phận không thé thiếu trong tiếng Nhật hiện dai. Có thé hình dung vai trò của lớp từ Hán Nhật trong tiếng Nhật gần giống như vai trò của lớp từ Hán Việt trong tiếng Việt. Phần lớn các từ Hán Nhật đều bao gom 2 hoặc hon 2 hình vị (được biểu thi bang từ 2 chữ Hán trở lên).
Ví dụ: 1# byodou bình đẳng, 1H jiyuu ty đo, hx dokuritsu độc lập, WF kenkyuu nghiên cứu, 3š hikouki phi hành co/ máy bay. Về mặt từ loại, đa số các từ Hán 13 Nhật là danh từ, trong đó chủ yêu là các danh từ biéu thị khái niệm trừu tượng như: 8) enjo viện tro, 8ã kannen quan niệm, #lñễằồ chishiki tri thức, Y& fthouritsu pháp luật, Ki ketten khuyết điểm. Khi các danh từ có nghĩa 44 hành động muốn hoạt động với tư cách là động từ thì buộc phải kết hợp với một từ thuần Nhật có chức năng chuyên biệt là +4 suru, tạo thành các động từ như #fZZ34 kenkyusuru nghién cứu, #24 renshuusuru luyện tập. Ngoài ra có một số ít từ gốc Hán được sử dụng trong tiếng Nhật với tư cách là tính từ như ##JE kirei dep/ sạch sẽ, f##l| benri tién lợi, Af yumei nổi tiếng.
cà Như đã trình bày ở trên, do các từ Hán vào tiếng Nhật trong các giai đoạn khác nhau nên ngoài sự phức tạp về âm đọc, ngay cả nguồn gốc của các từ này không phải bao giờ cũng được người Nhật ý thức như nhau. Có nhiều từ vào tiếng Nhật từ xa xưa nên người Nhật quên mat nguồn gốc Hán của chúng như từ * < (28) kiku hoa cúc, 654A (Mi) mochiron tất nhiên, = < (® maku màn sân khấu. Có những từ vốn có nguồn gốc từ tiếng An Độ cô, sau đó đi theo con đường truyền giáo, qua Trung Quốc rồi vào Nhật, do đó cũng được viết bằng chữ Hán và được chấp nhận như từ Hán. Ví dụ như = = tera chùa, {4 hotoke phát.
Ngoài ra cũng có rất nhiều các từ Hán Nhật do người Nhật tạo mới trên cơ sở mượn những yêu to Hán như: aii denwa điện thoại, #fER yakyu đã cau/ bóng chày, Vi oshoku tham 6, tham những, i keizai kinh tế. Bên cạnh các từ sốc Hán biéu thị các khái niệm trừu tượng vốn không có trong tiếng Nhật, buộc phải vay mượn, người Nhật còn chủ động du nhập cả các từ Hán biểu thị sự vật hay khái niệm cụ thể vốn đã có trong tiếng Nhật gốc. Do vậy cùng một sự vật hay khái niệm nhiều khi sử dụng đồng thời cả hai từ: một từ thuần Nhật, một từ Hán Nhật.