Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học phân bố và thành phần hóa học tinh dầu của các loài trong họ hồ tiêu piperaceae ở bắc trung bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học, phân bố và thành phần hóa học tinh dầu các loài họ hồ tiêu Piperaceae tại Bắc Trung Bộ.

Chuyên ngành

Thực vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

161
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

0.2.1. Nghiên cứu thực vật họ Hồ tiêu (Piperaceae)

0.2.1.1. Trên thế giới
0.2.1.2. Ở Việt Nam

0.2.2. Giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)

0.2.3. Khái niệm chung về cây tinh dầu

0.2.4. Khái niệm về tinh dầu

0.2.5. Phân bố cây tinh dầu trong hệ thực vật Việt Nam

0.2.6. Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu họ Hồ tiêu (Piperaceae)

0.2.6.1. Trên thế giới

0.3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI Ở BẮC TRUNG BỘ

0.3.1. Vị trí địa lý

0.3.2. Địa hình, địa mạo

0.3.3. Đặc điểm khí hậu

0.3.4. Đặc điểm kinh tế xã hội

0.3.5. Đặc điểm hệ thực vật

0.4. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.4.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4.2. Nội dung nghiên cứu

0.4.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4.3.1. Phương pháp nghiên cứu sinh học
0.4.3.2. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học tinh dầu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Nghiên cứu thực vật họ Hồ tiêu (Piperaceae)

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Ở Việt Nam

1.2. Giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)

1.3. Khái niệm chung về cây tinh dầu

1.4. Khái niệm về tinh dầu

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

2.1. Đặc điểm sinh học của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)

2.2. Đặc điểm hình thái của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)

2.3. Đặc điểm sinh thái, mùa hoa, mùa quả của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae)

2.4. Đa dạng họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ

2.5. Các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) được ghi nhận thêm vùng phân bố cho khu Hệ Thực vật Bắc Trung Bộ

2.6. Đa dạng về giá trị sử dụng

2.7. Đặc điểm của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ. Thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Bắc Trung Bộ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC ẢNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của họ Piperaceae Bắc Trung Bộ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học của các loài thuộc họ PiperaceaeBắc Trung Bộ tập trung vào các đặc điểm hình thái, sinh thái, và chu kỳ sinh trưởng. Các loài trong họ này thường là dây leo với lá đơn, mọc cách hoặc đối, và có gân vòng cung. Hoa của chúng tạo thành vòng nạc dày đặc, không có cánh hoa, và bao phấn ngoại hướng. Đa dạng sinh học của họ Piperaceae ở Bắc Trung Bộ được thể hiện qua sự phân bố rộng rãi của các loài trong các khu vực rừng nhiệt đới, đặc biệt là ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các loài trong họ Piperaceae có khả năng thích nghi cao với điều kiện sinh thái đa dạng, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng.

1.1. Đặc điểm hình thái

Các loài trong họ Piperaceae có đặc điểm hình thái đặc trưng như lá đơn, mọc cách hoặc đối, và gân vòng cung. Hoa của chúng thường tạo thành vòng nạc dày đặc, không có cánh hoa, và bao phấn ngoại hướng. Đặc điểm này giúp phân biệt các loài trong họ Piperaceae với các họ thực vật khác. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các loài trong họ này có sự đa dạng về kích thước và hình dạng lá, từ lá nhỏ đến lá lớn, từ hình trứng đến hình tim.

1.2. Đặc điểm sinh thái

Các loài trong họ Piperaceae phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là ở Bắc Trung Bộ. Chúng thường sống trong các khu rừng nhiệt đới, nơi có độ ẩm cao và nhiệt độ ổn định. Nghiên cứu chỉ ra rằng các loài trong họ này có khả năng thích nghi cao với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Điều này làm tăng đa dạng sinh học của họ Piperaceae ở khu vực này.

II. Phân bố của họ Piperaceae Bắc Trung Bộ

Nghiên cứu phân bố của các loài thuộc họ PiperaceaeBắc Trung Bộ cho thấy chúng phân bố rộng rãi trong các khu vực rừng nhiệt đới, đặc biệt là ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như Vườn Quốc gia Pù Mát, Vũ Quang, và Phong Nha - Kẻ Bàng. Sự phân bố này phản ánh đa dạng sinh học cao của họ Piperaceae ở khu vực này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các loài trong họ này có khả năng thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng.

2.1. Phân bố theo địa lý

Các loài trong họ Piperaceae phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là ở Bắc Trung Bộ. Chúng thường sống trong các khu rừng nhiệt đới, nơi có độ ẩm cao và nhiệt độ ổn định. Nghiên cứu chỉ ra rằng các loài trong họ này có khả năng thích nghi cao với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Điều này làm tăng đa dạng sinh học của họ Piperaceae ở khu vực này.

2.2. Phân bố theo sinh cảnh

Các loài trong họ Piperaceae thường phân bố trong các sinh cảnh rừng nhiệt đới, đặc biệt là ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Nghiên cứu chỉ ra rằng các loài trong họ này có khả năng thích nghi cao với các điều kiện sinh thái khác nhau, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Điều này làm tăng đa dạng sinh học của họ Piperaceae ở khu vực này.

III. Thành phần hóa học tinh dầu của họ Piperaceae Bắc Trung Bộ

Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu từ các loài thuộc họ PiperaceaeBắc Trung Bộ cho thấy sự đa dạng về các hợp chất hữu cơ, bao gồm các terpenoid, phenolic, và các hợp chất thơm. Các hợp chất này có tiềm năng ứng dụng trong y dược học, đặc biệt là trong việc phát triển các loại thuốc kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tinh dầu từ các loài trong họ Piperaceae có thể được sử dụng trong các ngành công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm.

3.1. Phân tích hóa học tinh dầu

Nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu từ các loài thuộc họ PiperaceaeBắc Trung Bộ cho thấy sự đa dạng về các hợp chất hữu cơ, bao gồm các terpenoid, phenolic, và các hợp chất thơm. Các hợp chất này có tiềm năng ứng dụng trong y dược học, đặc biệt là trong việc phát triển các loại thuốc kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa.

3.2. Ứng dụng của tinh dầu

Tinh dầu từ các loài trong họ Piperaceae có thể được sử dụng trong các ngành công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm. Nghiên cứu chỉ ra rằng các hợp chất hữu cơ trong tinh dầu có tiềm năng ứng dụng trong y dược học, đặc biệt là trong việc phát triển các loại thuốc kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm sinh học phân bố và thành phần hóa học tinh dầu của các loài trong họ hồ tiêu piperaceae ở bắc trung bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nghiên cứu thực vật họ Hồ tiêu (Piperaceae) 1. Trên thế giới Họ Hồ tiêu (Piperaceae) là 1 họ lớn của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới trên thế giới, có khoảng 10 chi và 2. Trong đó 2 chi Piper và Peperomia chiếm khoảng 90% tổng số loài [54], [68], [79].

Sự phân nhóm đối với các loài và chi của họ này cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất. De Candolle (1869) xác định họ này gồm 2 chi Piper và Peperomia với trên 1. Tuy nhiên, theo Lawrence (1957), họ này có 10 - 12 chi với 2 chi lớn là Piper và Peperomia [62]. Theo phân loại của Takhtajan (1987), họ Piperaceae gồm có 7 chi và trên 2.

Nghiên cứu phân loại họ Hồ tiêu (Piperaceae) bắt đầu với việc xuất bản Các loài thực vật bởi Linnaeus (1753). Ông đã mô tả có 17 loài, tất cả đều được bao gồm trong chi Piper [114]. Sau này Hooker (1885) mô tả có 45 loài trong Thực vật chí Ấn Độ [57]. Ở Java, Inđônexia có 23 loài [43].

Ở các vùng khác nhau có những công trình công bố đại diện cho khu vực như: Năm 1999, Cheng và cộng sự đã công bố ở Trung Quốc có 60 loài, trong đó có 34 loài đặc hữu [48]. Gần đây, Chaveerach và cộng sự (2005), đã công bố ở Thái Lan có 37 loài [46]. Năm 2006 nâng tổng số loài được thừa nhận ở Thái 4 Lan lên 40 loài và 2 thứ [47]. Trong “Danh lục thực vật ở Lào” có 24 loài [74].

Ở Việt Nam Nghiên cứu về họ Hồ tiêu (Piperaceae) ở Việt Nam chủ yếu người Pháp với công trình đầu tiên đề cập đến họ này là J. Sau công trình này còn có một số công trình nghiên cứu về họ Hồ tiêu ở Việt Nam như trong công trình “Cây cỏ thường thấy Việt Nam” của Lê Khả Kế và cộng sự (1975) [19]. Phạm Hoàng Hộ (1972) trong “Cây cỏ Miền Nam Việt Nam” đã công bố 4 chi với 18 loài thuộc họ Hồ tiêu ở Miền Nam Việt Nam [12]. Đến năm 1993, trong “Cây cỏ Việt Nam” được xuất bản ở Canada, ông đã xác định ở Việt Nam họ Piperaceae có 5 chi, 48 loài và thứ.

Công trình này được tái bản vào năm 1999 có bổ sung, chỉnh sửa đã đưa tổng số các loài trong họ Hồ tiêu ở Việt Nam là 55 loài và thứ thuộc 5 chi [13], [14]. Năm 1999, Lê Trần Chấn và cộng sự đã công bố họ Hồ tiêu trong cuốn “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, đã thống kê ở Việt Nam có 49 loài và 5 chi [5]. Trong cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” đã thống kê có 13 loài [3]. Gần đây, theo Nguyễn Kim Đào (2003) thì họ Hồ tiêu phân bố ở Việt Nam có 5 chi gồm: Peperomia, Zippelis, Circaeocarpus, Piper, Lepianthes, trong đó, chi Piper L.

Ngoài những công trình đã được công bố theo dạng danh lục hoặc sách tra cứu còn được công bố theo hướng các loài có giá trị sử dụng làm thuốc, làm gia vị, làm cảnh,… điển hình là các công trình “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và cộng sự (1993), đã ghi nhận họ Hồ tiêu có 8 loài thuộc 2 chi có giá trị sử dụng [24]. Lê Trần Đức (1997) đã giới thiệu 2 chi với 10 loài được sử dụng làm thuốc [11][11]. Gần đây nhất là công trình của Võ Văn Chi (2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” đã giới thiệu 18 loài và thứ, thuộc 3 chi được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam [6]. 5 Ngoài ra, còn có nhiều công trình công bố về tính đa dạng hệ thực vật ở các khu vực trong cả nước như ở các VQG và Khu BTTN, trong đó có các kết quả nghiên cứu về các taxon họ Hồ tiêu (Piperaceae) như của tác giả Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996), khi nghiên cứu đa dạng thực vật ở Cúc Phương đã công bố, họ Hồ tiêu (Piperaceae) có 10 loài thuộc 2 chi [20].

Năm 1998, khi nghiên cứu hệ thực vật ở vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Phăng, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, công bố 2 chi, 7 loài thuộc họ Hồ tiêu [31]. Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô và cộng sự (2003), khi nghiên cứu hệ thực vật VQG Bạch Mã ghi nhận họ Hồ tiêu có 4 loài thuộc 01 chi [30]. Năm 2004, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn đã ghi nhận họ Hồ tiêu ở VQG Pù Mát có 14 loài và thứ thuộc 3 chi [29]. Năm 2008, Trần Minh Hợi và cộng sự đã công bố ở VQG Xuân Sơn có 3 chi với 11 loài [15].

Đỗ Ngọc Đài và cộng sự (2010), công bố 2 chi, 8 loài có ở Khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hóa [9]. Năm 2012, Lê Thị Hương và cộng sự, khi nghiên cứu hệ thực vật Pù Hoạt, Nghệ An đã công bố 2 chi với 6 loài [18]. Averyanov và cộng sự (2012) đã công bố ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có 2 chi, 9 loài [41]. Đậu Bá Thìn và cộng sự (2016), công bố 2 chi 12 loài của họ này ở khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa [28].

Năm 2015, Lê Thị Hương và cộng sự, đã công bố 1 chi và 6 loài thuộc họ Hồ tiêu ở VQG Vũ Quang [17]. Giá trị sử dụng của các loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) Rất nhiều loài trong họ Hồ tiêu (Piperaceae) có chứa tinh dầu nên đã được trồng để dùng làm gia vị, làm chất kích thích và làm thuốc trong y học dân gian. Nhiều bộ phận của các loài thuộc chi Hồ tiêu (Piper L.) đều có thể được dùng để làm thuốc. Tuy nhiên, giữa các quốc gia khác nhau có sự khác nhau về loài hoặc bộ phận được sử dụng của cùng một loài.

Công dụng phổ biến nhất của chi này theo kinh nghiệm dân gian là để chữa các bệnh về đường tiêu hóa (bệnh dạ dày, đầy hơi, tiêu chảy, táo bón), giảm đau (bệnh thấp khớp, đau lưng, đau răng) và kháng khuẩn, chống viêm (viêm phế quản, vết thương phần mềm, viêm đường tiêu hóa) [6]. 6 Hồ tiêu (Piper nigrum) là loài có giá trị kinh tế lớn. Quả, hạt Hồ tiêu là loại gia vị được ưa chuộng ở hầu khắp các khu vực trên thế giới dùng là gia vị chế biến thực phẩm nói chung, cũng như trong các bữa ăn hàng ngày. Chỉ với liều lượng nhỏ, Hồ tiêu cũng có tác dụng gây tiết dịch vị, dịch tụy,… kích thích khả năng tiêu hóa ở người.

Với liều lượng lớn chúng kích thích niêm mạc dạ dày, gây sung huyết và viêm cục bộ [26]. Một số loài khác như Tiêu thất (Piper cubeba), Tiêu dài (Piper longum), Tiêu dội (Piper refrofractum),… cũng được sử dụng làm gia vị của từng vùng, từng địa phương [26]. Trong y học dân gian ở một số khu vực, loài Tiêu thất (Piper cubeba) đã được làm thuốc kích thích, hoạt động tiết dịch nhờn ở niêm mạc của cơ quan tiết niệu, cơ quan hô hấp, chữa ho và kích dục,… Tại đảo Java (Inđônêxia), người ta thường sử dụng Tiêu thất và một số loài khác để làm thuốc kích thích tiêu hóa, tráng dương, lợi tiểu, chữa kiết lỵ do amíp, viêm thấp khớp, trị bệnh lậu và sát trùng [26]. Quả và hạt khô loài Tiêu thất (Piper cubeba) hiện vẫn còn là loại gia vị được ưa chuộng ở nhiều nước châu Âu.

Quả và hạt của Tiêu dài (Piper longum) lại được sử dụng làm gia vị ở nhiều nước Địa Trung Hải; nhiều địa phương của Lào, Campuchia, Việt Nam, Ấn Độ,… người ta vẫn thường dùng quả, thân, rễ của loài Tiêu dài làm gia vị hoặc làm thuốc trong y học dân tộc để chữa ho, viêm phế quản, kích thích tiêu hóa, nhuận tràng và làm thuốc xổ. Tại Trung Quốc người ta sử dụng rễ Tiêu dài giã nhỏ làm thuốc trợ giúp cho phụ nữ khi sinh đẻ được dễ dàng [26]. Nhân dân ta vẫn dùng Lá lốt (Piper lolot) làm rau gia vị, làm thuốc chữa chân tay đau nhức, thuốc giãn tĩnh mạch và thấp khớp…[6]. Loài tiêu dội (Piper refrofractum) cũng được sử dụng làm gia vị tương tự như ở nhiều loài khác.

Trong y học dân gian, đây là loài được sử dụng khá phổ biến để chữa trị các bệnh về hệ tiêu hóa, đặc biệt là các bệnh về đường ruột. Cư dân tại nhiều nơi ở Đông Nam Á thường dùng tiêu dội ngâm rượu dùng để chữa 7 băng huyết và giúp cho nhau thai ra thuận lợi đối với phụ nữ sau khi sinh. Dịch chiết từ lá tiêu dội được dùng làm nước súc miệng, làm thuốc chữa đau răng tại nhiều địa phương ở Inđonexia; Người Philippin dùng rễ tiêu dội sắc lấy nước hoặc nhai dùng chữa bệnh tải; Tại Malaixia, người ta dùng rễ tiêu dội như một loại thuốc độc [26]. Tinh dầu cất từ Tiêu thất (P.

cubeba) được dùng làm hương vị trong chế biến thực phẩm và pha chế nước uống không chứa cồn tại nhiều nước Âu - Mỹ. Tiêu thất được xếp vào mục GRAS 2338 và tinh dầu Tiêu thất vào mục GRAS2339 trong danh mục các sản phẩm tự nhiên an toàn trong chế biến dược phẩm và thực phẩm của Hoa Kỳ [26]. Nhân dân ta trước đây thường có tập quán “ăn trầu” khá phổ biến, đặc biệt là vùng nông thôn. Trầu không (Piper betle L.) cũng được dùng làm thuốc chữa mẫn ngứa, các vết loét, viêm mạch huyết, chàm mặt ở trẻ em, viêm kết mạc, chữa ho hen,…[6].

Mặc dù đã có khá nhiều loài thuộc chi Hồ tiêu (Piper L.) được sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian, tuy nhiên, việc sử dụng chi này để chữa bệnh trong thực tế hiện nay không nhiều. Hiện nay, có một số sản phẩm thực phẩm chức năng trong thành phần có dịch chiết từ một vài loài thuộc chi Hồ tiêu (Piper L.) hoặc chứa hoạt chất piperin. Trong đó, những sản phẩm có chứa piperin phối hợp cùng curcumin là phong phú nhất, một số sản phẩm có chứa đồng thời hai hoạt chất này như: Curcumin 2K, Curcumax, Biocurmin. Sự kết hợp giữa hai thành phần hoạt chất này trong nhiều sản phẩm xuất phát từ kết quả nghiên cứu của Shoba và cộng sự (1997), theo đó piperin có tác dụng làm tăng sinh khả dụng của curcumin lên 20 lần.

Cơ chế của tác dụng này là do piperin có khả năng ức chế quá trình liên hợp giữa acid glucuronic và curcumin nên làm giảm quá trình chuyển hóa và đào thải curcumin [84]. Những chế phẩm khác trong thành phần có chứa dịch chiết từ một số loài thuộc chi Piper L. được sử dụng để chữa bệnh như: Eupolin (chứa cao đặc lá Trầu không và cao đặc Cỏ lào có tác dụng chữa viêm lợi, viêm chân răng); 8 Sakantin có chứa dịch chiết từ quả của hai loài Piper nigrum L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, phân bố và thành phần hóa học tinh dầu họ Piperaceae Bắc Trung Bộ là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc khám phá các đặc điểm sinh học, sự phân bố tự nhiên và thành phần hóa học của tinh dầu thuộc họ Piperaceae tại khu vực Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về các loài thực vật trong họ này mà còn phân tích giá trị ứng dụng của tinh dầu trong y học và công nghiệp. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực thực vật học và hóa học tự nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, một nghiên cứu về hóa học phân tích và tác động đến sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình cung cấp góc nhìn sâu hơn về ứng dụng hóa học trong đánh giá môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi là một tài liệu hữu ích khác về phân tích hóa học ứng dụng. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm các chủ đề liên quan và nâng cao hiểu biết của mình.