Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan viêm tụy cấp do tăng triglycerid 1.1 Viêm tụy cấp 1.1 Định nghĩa Viêm tụy cấp (VTC) là một quá trình viêm cấp tính của tụy, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau: mức độ nhẹ chỉ cần nằm viện ngắn ngày, ít biến chứng. Mức độ nặng, bệnh diễn biến phức tạp, tỷ lệ tử vong cao 20-50%, trong bệnh cảnh suy đa tạng, nhiễm trùng [7].2 Dịch tễ học VTC là một bệnh thường gặp với bệnh cảnh cơn đau bụng cấp. Khoảng 10 - 15% trường hợp VTC diễn tiến nặng và có thể tử vong [2], [5]. Tần suất VTC thay đổi theo từng nước và tùy thuộc vào nguyên nhân như rượu, sỏi, rối loạn biến dưỡng và do thuốc.
Dịch tễ học dựa vào mổ tử thi cho thấy VTC ở Mỹ khoảng 0,5%, Pháp 0,35%, Nhật 0,12% và Ấn độ 0,55% [12], [18]. Ở Việt Nam, VTC thường do sỏi hoặc do giun chui vào đường mật-tụy. Trong nghiên cứu 5 năm 2001 - 2005 tại Bệnh viện Chợ Rẫy có 1414 trường hợp VTC, trong đó 78 trường hợp được phẫu thuật [6]. Tại Bệnh viện Trương Vương trong năm 2000 - 2001 có 45 trường hợp VTC, nguyên nhân thường gặp là do rượu 35,5%, kế đến là sỏi mật 17,8%, giun 4,4%, thuốc 2,2% [10].3 Nguyên nhân Có nhiều nguyên nhân gây VTC, nhưng cơ chế tác động của những nguyên nhân đó gây viêm tụy còn chưa rõ ràng [2], [26], [30].
Tắc nghẽn: sỏi mật là nguyên nhân thường gặp nhất của VTC chiếm khoảng 40% trường hợp. Theo nghiên cứu của Didiner M từ 1996 - 2005 nguyên nhân VTC do sỏi chiếm 36,2% [12]. 4 Rượu, độc chất và thuốc: rượu là nguyên nhân thứ hai chiếm khoảng 30% các nguyên nhân. Theo Didiner M thì nguyên nhân VTC do rượu chiếm 32,6%, tăng triglycerid máu là nguyên nhân thứ ba.
Mức triglycerid ≥ 11,4mmol/L ở bệnh nhân VTC được xem là chứng cớ mạnh để xác định tăng triglycerid là nguyên nhân gây VTC. Mức triglycerid ≥ 5,7mmol/L được dùng để chẩn đoán loại trừ với các nguyên nhân khác [68].2 Triglycerid và chuyển hóa triglycerid máu 1.1 Nguồn gốc Triglycerid ở người có nguồn gốc nội sinh và ngoại sinh: - Triglycerid nội sinh được tổng hợp ở gan và mô mỡ qua con đường glycerolphosphat, được phóng thích vào huyết tương dưới dạng VLDL. - Triglycerid ngoại sinh chiếm 90% triglycerid trong huyết tương. Sau bữa ăn, triglycerid dưới dạng chylomicrons sẽ tăng cao trong 1-2 giờ đầu, cao nhất sau 4-5 giờ sau đó sẽ được chuyển hóa hết sau 8 giờ [26], [32].2 Cấu tạo Triglycerid là ester của glycerol và 3 axit béo, là chất trung tính.
G Acid béo 1 L Y C E Acid béo 2 R I D Acid béo 3 Hình 1.1 Cấu trúc triglycerid (Nguồn: Văn Đình Hoa – 2004 [25]) 5 1.3 Chuyển hóa triglycerid Triglycerid không hòa tan trong nước, do vậy chúng phải được vận chuyển trong các hạt lipoprotein, nói cách khác lipoprotein là dạng vận chuyển triglycerid trong máu [65]. Mỡ ăn vào chủ yếu là triglycerid. Dưới tác dụng của acid mật và lipase dịch tụy, triglycerid bị thủy phân thành acid béo và monoglycerid. Tại tế bào niêm mạc ruột, hầu hết acid béo và monoglycerid được tái tổng hợp thành triglycerid rồi kết hợp với apo-B48, phospholipid và cholesterol để tạo thành hạt dưỡng trấp (chylomicron).
Hạt dưỡng trấp được hấp thu vào mạch bạch huyết rồi qua ống ngực đổ vào tuần hoàn chung. Riêng acid béo chuỗi ngắn (dưới 12 carbon) và glycerol được hấp thu trực tiếp vào tĩnh mạch cửa [25], [32]. Hạt dưỡng trấp chứa nhiều triglycerid, khi vào máu thì nhận thêm Apo- CII từ HDL. Apo-CII là cofactor của lipoprotein lipase thủy phân triglycerid đưa acid béo đến các tế bào ngoại vi để tiêu thụ.
Sau đó hạt dưỡng trấp được bổ sung Apo-E rồi được gan thu nhận (qua trung gian thụ thể của LDL và thụ thể của Apo-E trên bề mặt tế bào gan với Apo-E trên hạt dưỡng trấp). Tế bào gan thu nhận acid béo từ hạt dưỡng trấp và mô mỡ, tổng hợp thêm acid béo từ các mẫu acetyl coenzym A, kết hợp acid béo với glycerolphosphat để tạo triglycerid. Sau đó tế bào gan kết hợp triglycerid với apo-B100, phospholipid và cholesterol đưa vào máu dưới dạng VLDL. VLDL cũng chứa nhiều triglycerid, được HDL chuyển Apo-CII qua để kích hoạt lipoprotein lipase nhằm thủy phân triglycerid đưa acid béo đến các tế bào ngoại vi tiêu thụ.2 Chuyển hóa lipid máu (Nguồn: Văn Đình Hoa – 2004 [25]) - Rối loạn chuyển hóa Tăng triglycerid máu phụ thuộc vào sự mất cân bằng giữa tổng hợp và dị hóa của các lipoprotein [65], [68]: Tăng triglycerid máu nguyên phát: là một dạng bệnh di truyền hiếm gặp, VTC thường xảy ra ở type I, IV, V.
Trong đó VTC do tăng triglycerid xảy ra tự phát ở type I và IV, ở type V cần có yếu tố thúc đẩy. Bệnh chylomicron máu gia đình, di truyền gen lặn, VTC có thể xảy ra từ lúc nhỏ (tăng lipid máu type I). Bệnh tăng triglycerid máu gia đình, di truyền gen trội, VTC xảy ra ở tuổi trưởng thành (tăng lipid máu type IV), và bệnh tăng lipid máu hỗn hợp gia đình (tăng lipid máu type V). Tăng triglycerid thứ phát: có nhiều nguyên nhân như đái tháo đường (ĐTĐ) không được kiểm soát, nghiện rượu, dùng hormon (estrogen, tamoxifen), do thuốc (thiazides, sulfonamides, beta – Block…), có thai, suy giáp [58], [59].
Những người ĐTĐ, béo phì, tăng acid uric thường bị tăng 7 triglycerid type V. Nghiện rượu thường rối loại lipoprotein type IV và V. Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân bị VTC do rượu thường có TG cao hơn bệnh nhân bị VTC do sỏi mật.3 Cơ chế bệnh sinh của viêm tụy cấp do tăng triglycerid máu VTC do tăng triglycerid nằm trong cơ chế chung của bệnh cảnh VTC.1 Cơ chế bệnh sinh của VTC Sơ đồ 1.1 Tóm tắt cơ chế bệnh sinh của viêm tụy cấp (Nguồn: Frossard J. Giai đoạn đầu tiên của VTC được gây ra bởi sự hoạt hóa trypsinogen thành trypsin ngay trong các tế bào tuyến; trypsin lại tiếp tục hoạt hóa các enzym khác như elastase, phospholipase A2 và hệ thống bổ thể, hệ thống kinin.
Sau khi trypsinogen hoạt hóa thành trypsin, một phản ứng viêm tại chỗ được hình thành dẫn đến sự giải phóng tại chỗ của các chất trung gian viêm. 8 Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tổn thương tụy được gây ra bởi sự giải phóng các chất trung gian viêm như Interlekin-1 (IL-1), IL-6, IL-8 cùng với sự hoạt hóa của các tế bào viêm như bạch cầu trung tính, đại thực bào và các tế bào lympho [46]. Một số thuyết đưa ra để giải thích cơ chế bệnh sinh của VTC.2 Cơ chế tăng triglycerid gây VTC Cơ chế của VTC do tăng triglycerid nằm trong bệnh cảnh chung của cơ chế VTC. VTC do tăng triglycerid xảy ra khi triglycerid > 11,4mmol/L sẽ gây ra tình trạng VTC được giải thích với 2 cơ chế chính [48], [68]: - Do sự gia tăng nồng độ chylomicrons trong máu Chylomicrons thường được tạo thành 1-2 giờ sau khi ăn, tăng cao nhất sau 4–5 giờ và được dọn sạch trong vòng 8 giờ.
Khi có sự bất thường về cấu trúc lipoprotein và men lipoprotein lipase làm cho nồng độ chylomycrons tăng cao trong máu. Khi lượng triglycerid vượt quá 11,4mmol/L, chylomicrons hầu như hiện diện thường xuyên trong các mao mạch. Các phần tử tỷ trọng thấp này kích thước rất lớn có thể gây tắc nghẽn các mao mạch tụy dẫn đến thiếu máu gây hoại tử và toan hóa máu. Trong môi trường acid thì các acid béo tự do gây hoạt hóa trypsinogen gây nên VTC.
- Phân hủy triglycerid thành acid béo tự do ở tụy Do nồng độ chylomicron tăng cao làm cho triglycerid tiếp xúc với men lipases của tụy ở xung quanh tụy (men tụy thấm rỉ ra xung quanh) tạo thành acid béo tự do với nồng độ cao. Sự thoái biến của triglycerid thành các acid béo tự do với nồng độ cao sẽ dẫn đến tổn thương nhiễm độc tế bào tuyến tụy, gây thêm tổn thương tại chỗ, làm tăng các chất trung gian của phản ứng viêm và các gốc tự do, cuối cùng biểu hiện bằng viêm tụy.2 Lâm sàng và cận lâm sàng viêm tụy cấp do tăng triglycerid 1.1 Lâm sàng Viêm tụy cấp do tăng triglycerid có bệnh cảnh lâm sàng tương tự như VTC do các nguyên nhân khác. Triệu chứng lâm sàng của VTC xảy ra hết sức cấp tính, đột ngột và diễn biến phức tạp, có thể có các dấu hiệu ngoại khoa xen lẫn, đặc biệt là trong viêm tụy cấp thể hoại tử [3], [39], [48].1 Triệu chứng cơ năng - Đau bụng: gặp ở 95% bệnh nhân VTC, điển hình là cơn đau bụng xuất hiện đột ngột sau bữa ăn thịnh soạn, song có khi khởi phát tự nhiên, dữ dội, ở vùng trên rốn, lan lên ngực, sang hai bên mạn sườn, xuyên sau lưng. Cơn đau đạt đỉnh điểm sau 30-60 phút và kéo dài hơn 24 giờ không hết.
- Nôn ói: xuất hiện cùng với đau, xảy ra ở khoảng 70-85% các trường hợp, sau nôn đau vẫn không thuyên giảm [3].2 Triệu chứng thực thể - Sốt: sốt nhẹ hoặc có thể sốt cao vì viêm nhiễm do hoại tử tụy rộng. - Mạch, huyết áp: đa số bệnh nhân thể nhẹ thì mạch, huyết áp ổn định. Với những trường hợp viêm tụy cấp thể nặng, bệnh nhân có tình trạng sốc thì mạch nhanh, huyết áp động mạch tụt, người lạnh, chân tay lạnh, vã mồ hôi, tinh thần chậm chạp, hốt hoảng hoặc lờ đờ mệt mỏi. - Bụng chướng đau: ấn điểm sườn lưng trái đau, cũng có thể đau ở bên phải hoặc cả hai bên.
- Mảng bầm tím ở hai bên mạn sườn (dấu hiệu Grey - Turner) hay ở vùng quanh rốn là (dấu hiệu Cullen) thường hiếm gặp nhưng nếu có là biểu hiện của chảy máu ở vùng tụy và quanh tụy và là dấu hiệu của VTC nặng.2 Cận lâm sàng 1.1 Sinh hóa - Amylase máu và nước tiểu: trong 45% các trường hợp khi amylase máu 10 bình thường, amylase có thể bình thường giả tạo do nồng độ triglycerid tăng cao trong máu và có thể do xuất hiện hiện tượng kháng amylase. Khi amylase tăng > 3 lần, kết hợp với lâm sàng gợi ý chẩn đoán VTC. Amylase máu tăng sau đau 1-2 giờ và tăng cao sau 24 giờ và trở về bình thường sau 2-3 ngày. Amylase nước tiểu bắt đầu tăng trong những giờ đầu sau khi đau, nhưng đạt nồng độ đỉnh chậm hơn amylase máu và tăng kéo dài đến 7-10 ngày [8].3 Thay đổi nồng độ amylase máu và nước tiểu theo thời gian (Nguồn: Douglas O.F, et al – 2001 [33]) - Lipase máu: trong VTC do tăng triglycerid, lipase ít bị ảnh hưởng, lipase trong huyết tương tăng cao có giá trị chẩn đoán VTC hơn là amylase tăng.
Hơn nữa, thời gian tăng lipase trong máu kéo dài hơn amylase, do đó đây là một xét nghiệm để chẩn đoán và theo dõi VTC tốt hơn [33].