Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học và sự tăng trưởng sùi mào gà theo thời gian 1. Dịch tễ học Hầu hết những người hoạt động tình dục sẽ phát hiện có HPV ít nhất một lần trong đời [31]. Tỷ lệ nhiễm HPV ước tính cao với 14 triệu người mắc mới hàng năm và 79 triệu người nhiễm HPV nói chung [55], [76].
Chi phí y tế trực tiếp hàng năm cho các bệnh liên quan đến HPV tại Hoa Kỳ là khoảng 8 tỷ đô la Mỹ bao gồm 6. Dựa trên một nghiên cứu tổng quan có hệ thống, tỷ lệ sùi mào gà sinh dục toàn cầu dao động từ 160 đến 289 ca trên 100. Ước tính tỷ lệ mắc ở Hoa Kỳ đang gặp nhiều thách thức vì sùi mào gà sinh dục không phải là bệnh được báo cáo. Dựa trên các ước lượng từ cơ sở dữ liệu về tuyên bố y tế của Hoa Kỳ, tỷ lệ sùi mào gà là 1,2 trường hợp trên 1000 người-năm ở phụ nữ và 1,1 trên 1000 người-năm ở nam giới, tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ tuổi từ 20-24 và nam giới từ 25-29 tuổi [52].
Ở Việt Nam, thống kê của Bệnh viện Da liễu Trung ương, sùi mào gà chiếm khoảng 22% các bệnh do HPV gây nên. Tại khoa Laser phẫu thuật Bệnh viện Da liễu Trung ương trong hai năm 2011, 2012 có 1074 và 1699 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị sùi mào gà. Năm 2015 số ca mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục được báo cáo từ hệ thống bệnh viện công trên cả nước vào khoảng 300. Trong các bệnh lây qua đường tình dục được chẩn đoán tại cơ sở y tế công, sùi mào gà chiếm tỷ lệ cao nhất.
Độ tuổi mắc nhiều nhất từ 15 đến 49. Sau mỗi năm, số ca mắc mới tăng khoảng 10%. Sự tăng trưởng theo thời gian của sùi mào gà Tỷ lệ nhiễm HPV đã tăng ổn định trong 35 năm qua, với khoảng 20 triệu người ở Hoa Kỳ bị nhiễm bệnh [45]. Genital Warts — Initial Visits to Physicians’ Offices, United States, 1966–2014.
“Nguồn: National Disease and Therapeutic Index, 2015” [67] Theo đó, gần một nửa số ca nhiễm mới này sẽ xảy ra ở những người trẻ tuổi từ 15 đến 24 tuổi [15],[16]. Genital Warts — Prevalence per 1000 Person-Years Among Participants in Private Health Plans Aged 10–39 Years by Sex, Age Group, and Year, 2003–2010. “Nguồn: Flagg EW (2013)” [19] 5 1. Sự lây truyền của Human Papillomavirus Hình 1.
Cấu trúc HPV “Nguồn: Gerardo Santos, 2015” [48] Human Papillomavirus thuộc họ Pappilomaviridae là loài virus sinh u nhú chứa vật liệu di truyền DNA, d= 52 - 56nm, nhân lên trong tế bào thượng bì [10]. Có ái tính mạnh với biểu mô và lây nhiễm chọn lọc sang các tế bào biểu mô da, niêm mạc nhưng không gây ra tình trạng nhiễm virus hệ thống cũng như phá hủy tế bào. Đối với sự nhiễm trùng liên tục, hạt virus phải xâm nhập lớp biểu mô thông qua những tổn thương rất nhỏ và lây qua lớp tế bào đáy có khả năng phân chia tế bào ( tế bào mầm hay tế bào khuếch đại thoáng qua) [71], [16]. Sự sao chép virus được giới hạn ở lớp tế bào đáy của các mô bề mặt.
Quá trình lây nhiễm diễn ra chậm, mất khoảng 12-24h cho lần nhân bản đầu tiên. Thương tổn HPV thường lành tự nhiên do cơ chế miễn dịch của cơ thể là miễn dịch qua trung gian tế bào [54]. Khác với các virus có vỏ khác như HIV, virus Herpes simplex, HPV là virus không có vỏ bao lipoprotein, HPV có tính đề kháng tương đối với quá trình làm khô hay các chất tẩy rửa. Nhiễm HPV thường xảy ra qua sự ma sát trực tiếp ở da hay niêm mạc [57].
Mô học da thường và mô học vi thể bệnh sùi mào gà 1. Mô học da thường Da là một cơ quan lớn nhất của cơ thể. Da người lớn có độ dày từ 1,5- 4mm, diện tích 1,5m2-1,8m2-2m2.Da gồm 3 lớp: thượng bì, trung bì và hạ bì. Thượng bì là một biểu mô vảy có nhiều lớp, dày khoảng 0,1mm, ở lòng bàn tay, bàn chân khoảng 0,8-1,4mm.
Tế bào chính của thượng bì là tế bào sừng sản xuất ra chất sừng. Trung bì gồm: sợi chống đỡ, sợi tạo keo, chất cơ bản, tế bào gồm tế bào xơ hình thoi hoặc hình amíp. Hạ bì nằm là tổ chức đệm biệt hoá thành tổ chức mỡ [5]. Mô học vi thể bệnh sùi mào gà HPV có kích thước rất nhỏ, cỡ vài nanomet, phải dùng kính hiển vi điện tử phóng đại hàng trăm nghìn lần mới có thể quan sát được [50].
Mô học sùi mào gà dưới kính hiển vi điện tử được tái tạo bằng hình ảnh 3D. Mô học sùi mào gà dưới kính hiển vi quang học “Nguồn: Goodman A, 2003” [50] Virus dần dần tiến lên phía bề mặt ngoài, các lớp virus phía dưới sau một thời gian sẽ tiến dần ra phía ngoài và tạo thành các đợt sùi mới nếu người bệnh không được điều trị. Tuỳ theo týp HPV mà hình thái mô học có khác nhau, độ dày của lớp biểu mô bị đẩy lên cũng khác nhau [50]. Đặc điểm lâm sàng, diễn tiến thương tổn, một số yếu tố liên quan, cận lâm sàng và chẩn đoán bệnh sùi mào gà 1.
Đặc điểm lâm sàng Thương tổn xuất hiện tại vị trí bị sang chấn khi quan hệ tình dục, có thể đơn độc hoặc thường có nhiều thương tổn (khoảng 5-15), đường kính thương tổn từ 1-10mm. Các thương tổn có thể kết vào nhau thành mảng lớn, đặc biệt hay gặp ở người bị suy giảm miễn dịch và đái tháo đường [10], [44]. Thường không có triệu chứng cơ năng. Một số có thể ngứa, cảm giác bỏng rát, đau hoặc chảy máu.
Nhiều người bệnh không nhận biết mình bị bệnh [72], [74]. Phụ nữ bị sùi mào gà xuất hiện triệu chứng ra khí hư có thể là do có viêm âm đạo vi khuẩn kèm theo [10], [34]. Một số trường hợp do vệ sinh kém, kèm theo có thai nghén hoặc bệnh lậu kết hợp nên các sùi mào gà 8 phát triển thành một khối lớn, to bằng nắm tay, màu đỏ tươi, tiết dịch mùi hôi thối [10]. Vị trí thương tổn thường gặp ở nam giới là dương vật, vành qui đầu, hãm dương vật, mặt trong bao qui đầu, bìu.
Ở phụ nữ, thương tổn ở hãm môi âm hộ, môi bé, môi lớn, âm vật, lỗ niệu, vùng đáy chậu, hậu môn, tiền đình âm đạo, âm môn, màng trinh, âm đạo và mặt ngoài cổ tử cung. Sùi mào gà có thể thấy ở bẹn, vùng đáy chậu và hậu môn. Lỗ niệu đạo bị thương tổn ở nam gặp khoảng 20-25% và ở nữ là 4-8%, hậu môn ít gặp hơn [10], [34]. Màu sắc của sùi mào gà không sừng hoá có màu hồng tươi, đỏ, khi bị sừng hoá có màu xám trắng và các thương tổn nhiễm sắc có màu tro xám, nâu đen.
Thương tổn sùi không có xu hướng nhiễm sắc nhưng các thương tổn nhiễm sắc có thể thấy ở môi lớn, thân dương vật, mu, bẹn, đáy chậu và hậu môn [10]. Bình thường sùi mào gà không gây đau đớn gì. Trường hợp sùi phát triển to quá có thể gây khó chịu khi đi lại. Khi bị sang chấn, sờ nắn, sùi mào gà có thể bị trầy sướt, chảy máu hoặc bội nhiễm làm các sùi có nhiều mủ, các hạch bạch huyết vùng bẹn sưng to.
Một số trường hợp bệnh nhân có thể bị sốt cao hoặc đau đớn [10], [72], [74]. Các loại thương tổn: - Sùi mào gà nhọn: ở niêm mạc biểu mô như bao qui đầu, lỗ miệng sáo, môi nhỏ, tiền đình âm đạo, âm đạo, cổ tử cung, hậu môn và trong hậu môn. Các thương tổn có hình dạng chẽ ngón này rất nhiều mạch máu nhỏ nên rất dễ chảy máu. - Sùi mào gà dạng sẩn: ở vùng biểu mô sừng hoá như mặt ngoài bao da qui đầu, thân dương vật, bìu, hai bên âm hộ, mu, đáy chậu và quanh hậu môn.
Các thương tổn này thường hoá sừng hoặc nhiễm sắc. 9 - Thương tổn dát: có thể lộ rõ thương tổn ở niêm mạc do màu sắc rất tinh tế: màu xám trắng nhạt, đỏ hồng nhạt hoặc màu đỏ nâu. - Sẩn dạng Bowen: là các thương tổn dát sẩn, màu sắc thay đổi từ màu nâu nhạt hoặc màu đỏ, xám trắng nhạt, ở da có màu xám tro tới màu nâu đen. - Sùi mào gà khổng lồ: rất hiếm gặp, có đặc điểm là xâm lấn xuống dưới trung bì.
Tổ chức bệnh học có những vùng lành tính xen kẽ với các ổ tế bào thượng bì bất thường hoặc các tế bào biệt hoá ung thư tế bào gai [10]. Diễn tiến của thương tổn Sùi mào gà sinh dục thay đổi từ các nốt nhỏ, phẳng đến nhọn với những tổn thương giống như súp lơ trên niêm mạc sinh dục và vùng da xung quanh (Hình 1. Các tổn thương từ khó nhìn thấy và không có triệu chứng (Hình 1.5), đến các mảng lớn có thể gây trở ngại cho việc đi vệ sinh và quan hệ tình dục (Hình 1. Thời gian ủ bệnh thường khoảng 3-8 tuần.
Sau khi nhiễm HPV sẽ xuất hiện các triệu chứng bệnh sau khoảng 2-3 tháng, bệnh có thể không tiến triển hoặc phát triển to lên, 70% nhiễm sùi mào gà sẽ hết sau 1 năm, 90% sau 2 năm và hầu hết các trường hợp sẽ lành tự nhiên [35], [56]. Khoảng 5-10% phụ nữ nhiễm Human Papillomavirus dai dẳng sẽ phát triển thành tiền ung thư cổ tử cung và ung thư xâm lấn sau đó [35], [56]. Sau khi bệnh giảm hoặc không có biểu hiện lâm sàng, nhưng HPV vẫn tồn tại dưới lâm sàng suốt đời người bệnh. Phụ nữ có thai bệnh có thể phát triển nặng hơn và bội nhiễm vi khuẩn [10].
Sùi mào gà ở rãnh dương vật và sùi mào gà lớn bị viêm gây cản trở ở hậu môn. Usatine, MD, 2014” [36] Hình 1. Các sẩn hạt ngọc dương vật (mũi tên mỏng) và sùi mào gà rãnh dương vật (mũi tên dày), sùi mào gà quanh hậu môn lan rộng. Usatine, MD, 2014” [36] 11 Hình 1.
Sùi mào gà sinh dục ngoài lớn và sùi mào gà ở môi bé, lớn (mũi tên dài), âm hộ (mũi tên ngắn). Một số yếu tố liên quan Carrie M. Nielson [27] cho thấy nếu có tiền sử các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) thì đối tượng nghiên cứu của tác giả tăng nguy cơ nhiễm HPV 1,1 lần và trong nghiên cứu của Edith R. Bahmanyar và cộng sự (2012) [39] trên phụ nữ trẻ ở nhiều quốc gia thì tỷ lệ nhiễm HPV tăng 2,24 lần khi có tiền sử STDs.
Tương tự như ở nữ giới, tỷ lệ nhiễm HPV ở nam trong đối tượng có STDs thường cao hơn khi khảo sát trong cộng đồng do các nhiễm trùng qua đường tình dục làm tăng nguy cơ nhiễm HPV.