Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại Bệnh viện Bạch Mai

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại trung tâm, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Bác sĩ Đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

79
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đại cương về suy gan cấp

1.2. Khái niệm và dịch tễ học

1.3. Nguyên nhân suy gan cấp

1.4. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

1.5. Biểu hiện lâm sàng

1.6. Xét nghiệm cận lâm sàng

1.7. Chẩn đoán suy gan cấp

1.8. Chẩn đoán nguyên nhân

1.9. Phân loại mức độ

1.10. Phương pháp điều trị. Các biện pháp điều trị chung

1.11. Xử trí ban đầu và vận chuyển cấp cứu

1.12. Xử trí tại bệnh viện

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm: Trung tâm Chống Độc - Bệnh viện Bạch Mai. Thời gian: thời gian nghiên cứu 12/2020 đến 12/2021

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.7. Kỹ thuật thu thập số liệu

2.8. Phương tiện nghiên cứu

2.9. Các chỉ số nghiên cứu và phương pháp đo

2.10. Các biến số và đơn vị đo. Các bảng điểm đánh giá tình trạng lâm sàng

2.11. Phương pháp phân tích số liệu

2.12. Công cụ nghiên cứu

2.13. Xử lý số liệu

2.14. Sai số và khống chế sai số

2.15. Đạo đức nghiên cứu. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Đặc điểm suy gan cấp

3.2. Mô tả đặc điểm nguyên nhân và tiền sử của bệnh nhân

3.3. Mô tả đặc điểm lâm sàng

3.4. Đặc điểm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

3.5. Đánh giá kết quả điều trị nội khoa

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm suy gan cấp

4.3. Mô tả đặc điểm nguyên nhân và tiền sử của bệnh nhân

4.4. Mô tả đặc điểm lâm sàng

4.5. Mô tả đặc điểm cận lâm sàng

4.6. Đánh giá kết quả điều trị nội khoa

Tóm tắt

I. Tổng quan về suy gan cấp và đặc điểm lâm sàng

Suy gan cấp (SGC) là một tình trạng nghiêm trọng, đặc trưng bởi sự suy giảm chức năng gan nhanh chóng. Tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm bệnh não gan và rối loạn đông máu. Tại Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu về SGC đã chỉ ra rằng nguyên nhân phổ biến nhất là do ngộ độc thuốc, đặc biệt là paracetamol. Việc nhận diện sớm các triệu chứng lâm sàng là rất quan trọng để điều trị kịp thời.

1.1. Định nghĩa và dịch tễ học của suy gan cấp

Suy gan cấp được định nghĩa là sự phát triển nhanh chóng của bệnh não gan và rối loạn đông máu. Tỷ lệ mắc bệnh này ở các nước đang phát triển cao hơn nhiều so với các nước phát triển, với nhiều nguyên nhân khác nhau như viêm gan virus và ngộ độc thuốc.

1.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân suy gan cấp

Bệnh nhân thường khởi phát với triệu chứng như mệt mỏi, buồn nôn, và vàng da. Các triệu chứng này có thể tiến triển nhanh chóng, dẫn đến tình trạng hôn mê và tử vong nếu không được điều trị kịp thời.

II. Nguyên nhân gây suy gan cấp và thách thức trong điều trị

Nguyên nhân gây suy gan cấp rất đa dạng, bao gồm ngộ độc thuốc, viêm gan virus, và các bệnh lý khác. Việc xác định chính xác nguyên nhân là rất quan trọng để có phương pháp điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có phác đồ điều trị đặc hiệu cho SGC, điều này tạo ra nhiều thách thức cho các bác sĩ.

2.1. Các nguyên nhân chính gây suy gan cấp

Nguyên nhân chính của SGC bao gồm ngộ độc paracetamol, viêm gan virus, và các bệnh lý hiếm gặp khác. Việc nhận diện sớm nguyên nhân giúp cải thiện kết quả điều trị.

2.2. Thách thức trong điều trị bệnh nhân suy gan cấp

Thiếu phác đồ điều trị đặc hiệu và sự đa dạng của nguyên nhân gây bệnh là những thách thức lớn trong việc điều trị SGC. Các bác sĩ cần phải linh hoạt trong việc áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau.

III. Phương pháp điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại Bệnh viện Bạch Mai

Tại Bệnh viện Bạch Mai, các phương pháp điều trị cho bệnh nhân suy gan cấp bao gồm hỗ trợ chức năng gan, điều trị biến chứng và theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân. Việc áp dụng các phương pháp này giúp cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

3.1. Các biện pháp điều trị chung cho bệnh nhân suy gan cấp

Các biện pháp điều trị bao gồm lọc máu, điều trị triệu chứng và hỗ trợ dinh dưỡng. Những biện pháp này giúp giảm tải cho gan và cải thiện tình trạng bệnh nhân.

3.2. Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị

Việc theo dõi chặt chẽ các chỉ số sinh tồn và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân là rất quan trọng. Điều này giúp bác sĩ điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời và hiệu quả.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Bệnh viện Bạch Mai

Nghiên cứu tại Bệnh viện Bạch Mai đã chỉ ra rằng việc nhận diện sớm triệu chứng và nguyên nhân của suy gan cấp có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị. Các kết quả này có thể được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn lâm sàng.

4.1. Kết quả điều trị bệnh nhân suy gan cấp

Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ sống sót của bệnh nhân suy gan cấp tại Bệnh viện Bạch Mai đạt được những con số khả quan, nhờ vào việc áp dụng các phương pháp điều trị hiện đại.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng phác đồ điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân suy gan cấp, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu suy gan cấp

Nghiên cứu về suy gan cấp tại Bệnh viện Bạch Mai đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về đặc điểm lâm sàng và điều trị. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các phác đồ điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong điều trị suy gan cấp

Nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiểu biết về bệnh lý và phát triển các phương pháp điều trị mới, giúp nâng cao tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân.

5.2. Triển vọng tương lai trong nghiên cứu và điều trị

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn các nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của suy gan cấp, từ đó phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

16/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại trung tâm chống độc bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 1. Đại cương về suy gan cấp 1. Khái niệm và dịch tễ học Năm 2011 Hiệp hội nghiên cứu gan Hoa kỳ (AASLD) định nghĩa suy gan cấp (SGC) là bệnh gan đặc trưng bởi sự phát triển của bệnh não gan và rối loạn đông máu theo tỉ lệ chuẩn hoá quốc tế INR lớn hơn 1,5 ; ở những bệnh nhân gan cấp tính dưới 26 tuần kèm theo bệnh não và suy giảm chức năng tổng hợp, không có xơ gan hoặc mắc bện gan từ trước (trừ bệnh Wilson và Budd Chiari)[37]. Năm 2017 Hiệp hội gan mật Châu Âu (EALS) cũng đưa ra định nghĩa giống với AASLD, ở những bệnh nhân biểu hiện não gan dưới 28 tuần[25].

Tỷ lệ mắc bệnh suy gan cấp ở các nước đang phát triển cao hơn nhiều so với các nước có nền kinh tế phát triển: Thái Lan là 62,9 trường hợp trên một triệu dân mỗi năm, vì các nguyên nhân thường gặp nhất là không xác định được (69,4%) và do thuốc không phải acetaminophen (26,1%), với viêm gan virus chỉ chiếm 2,5% các trường hợp [69], trong khi tỷ lệ mắc bệnh tổng thể từ 1 đến 6 trường hợp trên một triệu người mỗi năm, chiếm 6% các trường hợp tử vong liên quan đến gan và 7% các ca cấy ghép gan ở Hoa Kỳ[24, 36]. Ở các nước thu nhập thấp hoặc trung bình thuốc cổ truyền, thảo dược, thuốc chống lao và rượu là nguyên nhân chính gây say gan cấp[60]. Ở các quốc gia đang phát triển căn nguyên cơ bản dẫn tới tình trạng SGC chủ yếu là do virus, với các bệnh nhiễm trùng viêm gan B và E trong khi đó Hoa Kỳ và phần lớn các nước Châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh trường hợp suy gan liên quan đến virus đã giảm đáng kể, đa số các trường hợp hiện nay phát sinh suy gan cấp thứ phát do ngộ độc thuốc, thường do acetaminophen[11, 16]. Một nghiên cứu dịch tê trên thế giới: Nina Weiler và cộng sự đã công bố nghiên cứu dịch tế bệnh suy gan cấp tại Đức từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 đến ngày 31 tháng 12 năm 2016 cho thấy tỉ lệ SGC được tính toán là 1,13 / 100.000 người/năm, đại diện cho 4652 trường hợp.

Phụ nữ thường bị ảnh hưởng hơn (52% so với 48%, p<0,001). Tỷ lệ tử vong chung trong vòng 3 tháng là 47%[77]. Nguyên nhân suy gan cấp Có rất nhiều nguyên nhân gây suy gan cấp, ta có thể chia thành 3 nhóm nguyên nhân chính. Một là suy gan cấp do thuốc tây, nấm độc chứa amatoxin[28], thuốc thảo dược[61], ngộ độc sắt[20], và nhiều loại thuốc khác.

Nhóm nguyên nhân thứ hai là 3 do virus viêm gan A và B gây bệnh chủ yếu ở Nhật Bản và Pháp và là nguyên nhân thứ 2 gây bệnh gan ở Ấn Độ sau viêm gan E, viêm gan C hiếm gặp ở US nhưng hay gặp ở Nhật Bản[51]. Các nguyên nhân virus khác của SGC bao gồm virus herpes simplex, cytomegalovirus (CMV), virus Epstein-Barr (EBV), Parvovirus, adenovirus và virus varicella-zoster[1]. Viêm gan do vi rút và viêm gan do thuốc là hai nguyên nhân phổ biến nhất của SGC trên toàn thế giới[64]. Viêm gan A và E là những nguyên nhân hàng đầu gây suy gan, được báo cáo từ các nước đang phát triển.

Nhiễm viêm gan B có thể gây suy gan do nhiễm trùng cấp tính cũng như do viêm gan B tái hoạt sau khi bắt đầu điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch. Đồng nhiễm cả viêm gan B và C có thể dẫn đến SGC, mặc dù hiếm khi thấy bệnh này chỉ riêng với viêm gan C[1]. Quá liều Acetaminophen là nguyên nhân thường gặp nhất trong suy gan cấp thử phát do thuốc, nồng độ transaminase ở bệnh nhân ngộ độc acetaminiphen thường lớn hơn 5000UI/L[76] sau đó ít phổ biến hơn là các thuốc Isoniazid, propylthiouracil, phenytoin và valproate[73], disuliram[43]. Các nguyên nhân gây suy gan cấp trên toàn thế giới[7] 4 Cuối cùng nhóm nguyên nhân thứ ba là nhưng bệnh ít phổ biến như gan nhiễm mỡ cấp tính của thai kỳ[63], ung thư hạch, viêm gan thiếu máu cục bộ, hội chứng Budd-Chiari cấp tính, bệnh Wilson cấp tính, bệnh tự miễn dịch và bệnh cơ tim chu sinh[14].

Tổn thương gan do thiếu máu cục bộ cấp tính, thường được gọi là "sốc gan", thường xảy ra ở những người bệnh nặng bệnh nhân suy tim, tuần hoàn hoặc hô hấp nguyên phát[31]. Sinh lý bênh Trong khi Tumor necrosis factor (TNF) được cho là yếu tố chính trong quá trình tổn thương thì một số dữ liệu gần đây cho thấy các cytokine cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái tạo tế bào gan. Suy gan cấp là hậu quả của quá trình mất cân bằng giữa các yếu tố viêm và chống viêm. Vai trò của TNF-α TNF-α điều hòa biểu lộ các phân tử bám dính liên các tế bào (ICAM-1: InterCellular Adhesion Molecule-1), phân tử bám dính tế bào thành mạch (VCAM- 1: Vascular Cell Adhesion Molecule-1); hoạt hóa tế bào TCD4 gây nên hoạt hệ miễn dịch bẩm sinh tại chỗ; IL-1 hoạt hóa các tế bào bạch cầu trung tính, kích thích giải phóng các yếu tố gây tổn thương tế bào gan.

Tổn thương tế bào gan giải phóng các DAMPs (Danger-Associated Molecular Patterns), HMGB1 (High Mobility Group Box-1 protein), DNA. Những chất này tiếp tục kích thích hoạt hóa tế bào Kuffer tạo nên đáp ứng viêm hệ thống. Vai trò của tế bào Kuffer và đáp ứng miễn dịch trong tổn thương gan [56] 5 Vai trò của quá trình chết theo chu trình được kích hoạt theo 2 con đường. Con đường nội sinh liên quan tới các proteinBcl-12 ở màng ti thể làm rối loạn chức năng ti thể gây quá trình chết theo chu trình.

Con đường nội sinh thông qua các recepter hoạt hoá các chất trung gian hoá học, trong đó yếu tố hoại tử mô TFN-alpha và FasL đóng vai trò quan trọng. Rối loạn tín hiệu TFN thường thấy ở rất nhiều bệnh nhân viên gan virus hay nghiện rượu[79]. Quá trình chết theo chu trình của tế bào gan[19] Vai trò của các cytokin [19] Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, do giải phóng các cytokine tiền viêm như yếu tố hoại tử mô, IL-6. IL-1β chúng tham gia vào quá trình phù não do giảm trương lực thành mạch, làm tăng tưới máu não.

Mặc dù các yếu tố kháng viêm như IL-4, IL- 10 cũng có mặt ở BN SGC giúp hạn chế quá tình đáp ứng viêm hệ thống, nhưng kéo dài tình trạng này lại không có lợi do có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết và tử vong. Do đó, SGC là kết quả của việc giải phóng các yếu tố viêm và chống viêm từ gan vào vòng tuần hoàn dẫn tới rối loạn huyết động: xuất huyết tiêu hoá, não gan, gan thận, gan phổi. Ở những BN SGC không do acetaminophen có định lượng các cytokine ở những BN này cho thấy IL-7 cao hơn ở các BN tiến triển tốt trong khi IL-6 và IL-10 có tương quan chặt chẽ với hội chứng đáp ứng viêm hệ thống. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 1.

Biểu hiện lâm sàng Bệnh nhân suy gan cấp thường có tiền sử khỏe mạnh hoặc không có biểu hiện tiền sử bệnh lý nặng nề trước đó. Bệnh nhân khởi phát với triệu chứng mệt mỏi, buồn nôn, chán ăn và đau bụng sau đó các biểu hiện điển hình trên lâm sàng là vàng da và niêm mạc tăng nhanh, nước tiểu sẫm màu, hơi thở mùi gan (mùi hôi hoặc ngọt)[64, 67]. Hoại tử gan trực tiếp gây mất chức năng trao đổi chất nghiêm trọng và nhanh chóng, dẫn đến giảm gluconeogenesis, giảm độ thanh thải lactate và amoniac, biểu hiện lâm sàng là hạ đường huyết, tăng NH3 máu, tăng acid lactic máu, tăng đường huyết và rối loạn đông máu[38]. Hạ natri máu là thường do tăng thể tích máu.

Hệ thần kinh trung ương gây tăng thông khí gây nhiễm kiềm đường hô hấp, do đó khiến thận trao đổi các ion hydro dẫn đến hạ kali máu, ngoài ra còn xảy ra tình trạng giảm phosphat máu, và mất cân bằng axit-bazơ [32, 40]. May mắn thay, những bất thường về điện giải này hiếm khi dẫn đến rối loạn nhịp tim[7]. Hậu quả của tăng NH3 máu là: tăng hấp thu các acid amin trung tính vào não[4], làm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, norepinephrine, serotonin; tăng áp lực thẩm thấu ở trong tế bào hình sao dẫn đến phù não[30]; thay đổi điện thế hoạt động ở hệ thần kinh trung ương[5]. Rối loạn dẫn truyền thần kinh ở hội chứng não gan bao gồm tăng hoạt động của hệ ức chế (GABA, serotonin) trong khi suy gảm hoạt động của hệ hưng phấn (gluamate, catecholamines) dẫn đến ức chế hoạt động thần kinh trung ương.

Các chất dẫn truyền thần kinh giả cũng được nhắc đến trong vai trò gây hội chứng não gan[2]. Bệnh não gan được định nghĩa là một hội chứng tâm thần kinh xảy ra ở những bệnh nhân mắc các bệnh gan cấp tính hoặc mãn tính[13]. Về mặt lâm sàng, nó được đặc trưng bởi một loạt các triệu chứng, bao gồm suy giảm nhận thức, thay đổi mức độ ý thức có thể tiến triển đến hôn mê và tử vong[75]. Biến chứng gây chết người nhiều nhất liên quan đến suy gan cấp tính là sự phát triển của bệnh não gan và phù não.

Bệnh nhân bị SGC nên được phân loại bệnh não của họ bằng cách sử dụng hệ thống phân loại West Haven ( WHC) như được trình bày: 7 Bảng 1. WHC để phân biệt trạng thái tinh thần trong bệnh não gan[53] Độ 0 Không có dấu hiệu hoặc triệu chứng. Độ I Thay đổi trạng thái tình cảm, giảm tập trung, rối loạn giấc ngủ. Lơ mơ, u ám, hành vi bất thường, ứng xử không phù hợp mất định hướng, Độ II còn đáp ứng với lời nói.

Độ III Ngủ gà, không đáp ứng với lời nói, u ám rõ ,tăng phản xạ. Độ IV Hôn mê, biểu hiện mất não, có thể còn đáp ứng với kích thích đau. Rối loạn đông máu là một biểu hiện lâm sàng đặc trưng của SGC, vì tất cả các yếu tố đông máu, ngoại trừ yếu tố Von Willebrand và yếu tố VIII được tổng hợp trong gan, và nhiều yếu tố có thời gian bán hủy đo bằng giờ. Cơ chế chính cho các xét nghiệm đông máu bất thường trong ALF là giảm sản xuất các yếu tố đông máu II, V, VII, IX và X.

Hơn nữa, quá trình đông máu nội mạch và tiêu sợi huyết làm tiêu hao tiểu cầu và các yếu tố đông máu, làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu và rối loạn chức năng tiểu cầu thứ phát sau nhiễm độc găp ở hơn 60% bệnh nhân SGC[37].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh nhân suy gan cấp tại Bệnh viện Bạch Mai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng lâm sàng, phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh nhân suy gan cấp. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh lý này mà còn cung cấp thông tin quý giá cho bệnh nhân và gia đình họ trong việc nhận diện và quản lý bệnh.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến gan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng các loại biến chứng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân xơ gan có biến chứng tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2017 2018, nơi cung cấp thông tin về các biến chứng của xơ gan. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và chỉ số chống oxy hóa trong máu ở bệnh nhân mắc bệnh gan do rượu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của rượu đến sức khỏe gan. Cuối cùng, tài liệu Mô tả đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng trên bệnh nhân viêm tụy cấp và đánh giá kết quả điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để tìm hiểu về các bệnh lý liên quan đến gan và tụy.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến gan và các phương pháp điều trị hiệu quả.