Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1993, diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam suy giảm từ 14,3 triệu hecta xuống còn 9,3 triệu hecta. Mặc dù đến năm 1995, tổng diện tích rừng phục hồi lên mức 12,61 triệu hecta với độ che phủ đạt 37% (trong đó rừng tự nhiên chiếm 10,28 triệu hecta và rừng trồng chiếm 2,33 triệu hecta), chất lượng rừng và trữ lượng gỗ vẫn bị suy giảm đáng kể. Nhằm bảo vệ an ninh môi trường và phát triển bền vững, các chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 327 và Dự án 661 đã được triển khai đồng bộ cùng hệ thống rừng đặc dụng trên cả nước.
Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) có tổng diện tích rừng đặc dụng là 21.238,7 ha theo Quyết định số 1770/QĐ-CT ngày 31/12/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang. Địa bàn khu bảo tồn trải dài trên 4 xã gồm Thanh Tương, Sơn Phú, Khâu Tinh, Côn Lôn và thị trấn Na Hang. Hệ sinh thái tại đây lưu giữ khoảng 68% diện tích rừng ẩm nhiệt đới ở trạng thái nguyên sinh hoặc ít bị tác động, trong đó 70% là rừng trên núi đá vôi, ghi nhận trên 2.000 loài thực vật bậc cao với nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam.
Loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev), thuộc chi Giổi (Michelia), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), là loài cây gỗ lớn bản địa đa tác dụng. Cây cung cấp gỗ phẩm chất tốt cho đồ gia dụng và hạt dùng làm gia vị, thuốc chữa đau bụng. Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, Giổi ăn hạt được xếp vào Nhóm IIA (thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại). Tuy nhiên, các quần thể Giổi ăn hạt tự nhiên tại Na Hang đang bị suy giảm nghiêm trọng do áp lực khai thác gỗ và tình trạng người dân thu hái cạn kiệt hạt, dẫn đến nguồn hạt rơi rụng tái sinh tự nhiên trong rừng bị thiếu hụt.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Xác định các đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của loài Giổi ăn hạt tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, làm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định các đặc điểm hình thái và chu kỳ vật hậu của loài Giổi ăn hạt.
- Xác định đặc điểm sinh thái, phân bố và đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài tại khu vực nghiên cứu.
- Bước đầu đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý bảo tồn loài cây này tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các cá thể và lâm phần có loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev) sinh trưởng tự nhiên.
- Phạm vi không gian: Rừng tự nhiên tại các xã Thanh Tương, Sơn Phú, Khâu Tinh thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, giới hạn ở đai độ cao từ 1.000 m trở xuống.
- Phạm vi thời gian: Số liệu điều tra thực địa thu thập từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lý luận sinh thái học cá thể và quần thể của E. Odum (1975), học thuyết về kiểu rừng của G.F. Morozov, quan điểm về cấu trúc lâm phần rừng mưa tự nhiên của Richards (1952) và phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1987). Đồng thời, đề tài căn cứ vào hệ thống phân hạng bảo tồn của Sách đỏ IUCN (2004), Sách đỏ Việt Nam và quy chế quản lý thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và nội nghiệp bao gồm:
- Phương pháp kế thừa: Tổng hợp tài liệu khí tượng, thủy văn, thổ nhưỡng, địa giới hành chính từ Hạt kiểm lâm huyện Na Hang và các công trình nghiên cứu phân loại thực vật học trước đó.
- Phỏng vấn điều tra xã hội học: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương, các thợ rừng có kinh nghiệm và cán bộ kiểm lâm theo phiếu điều tra soạn sẵn nhằm đánh giá tình hình phân bố, tập quán khai thác, sử dụng gỗ và hạt.
- Phương pháp nghiên cứu hình thái và vật hậu: Quan sát trực tiếp trên 5–7 cây trưởng thành trong rừng tự nhiên theo giáo trình Cây rừng Việt Nam và phương pháp phân loại thực vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007). Thu thập mẫu vật thân, vỏ, lá, hoa, quả, hạt và đối chiếu tài liệu thực vật học.
- Thiết lập tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa cắt qua các đai cao và dạng sinh cảnh khác nhau. Trên các tuyến, lập các OTC điển hình tạm thời diện tích 1.000 m² (kích thước 25 m x 40 m hoặc 20 m x 50 m) tại các bước chênh cao 100 m. Trong mỗi OTC, tiến hành đo đếm toàn bộ cây gỗ có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$ bằng thước kẹp kính, đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng thước đo cao, đo đường kính tán ($D_t$) theo hai hướng Đông - Tây và Nam - Bắc bằng thước dây. Đo độ tàn che rừng bằng gương cầu lồi tại 5 vị trí ngẫu nhiên trong mỗi OTC.
- Điều tra thổ nhưỡng: Tại mỗi OTC, đào và mô tả 1 phẫu diện đất đại diện theo các tầng phát sinh A, B, C; phân tích độ sâu, màu sắc, thành phần cơ giới, cấu tượng, độ chặt, độ ẩm, tỷ lệ đá lẫn và tỷ lệ rễ cây.
- Điều tra lớp cây tái sinh: Bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m) tại 4 góc và vị trí trung tâm của mỗi OTC (tổng diện tích điều tra tái sinh là 125 m²/OTC). Thống kê tên loài, cấp chiều cao, chất lượng sinh trưởng (tốt, trung bình, xấu) và nguồn gốc tái sinh (từ hạt hoặc chồi).
- Điều tra cây đi kèm: Sử dụng phương pháp ô 6 cây xung quanh cây Giổi ăn hạt mục tiêu làm tâm để xác định mối quan hệ loài.
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng phần mềm Excel và SPSS để tính toán các đại lượng thống kê:
- Chỉ số giá trị quan trọng: $IV% = \frac{N_i% + G_i%}{2}$ (trong đó $N_i%$ là tỷ lệ số cây, $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang của loài $i$).
- Mật độ lâm phần: $N = \frac{n}{S} \times 10.000$ (cây/ha).
- Mức độ thường gặp: $M_{tg}% = \frac{r}{R} \times 100$.
- Chỉ số thân thuộc Sørensen: $q = \frac{2c}{2c + a + b}$.
- Công thức tổ thành tái sinh: $K_i = \frac{N_i}{N} \times 10$.
- Đánh giá tác động nhân sinh: Cho điểm theo thang từ 0 (không tác động) đến 3 (tác động nghiêm trọng) trên các tuyến điều tra đối với 5 chỉ tiêu: xói mòn, chăn thả gia súc, chặt hạ gỗ, phân gia súc và cháy rừng/đốt nương.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự suy thoái diện tích rừng tự nhiên, giá trị kinh tế và sinh thái của loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev), cũng như thực trạng khai thác cạn kiệt nguồn gen tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Xác định rõ mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn phục vụ công tác quản lý bảo tồn loài cây này.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần này tổng kết cơ sở khoa học về phân loại học họ Ngọc lan (Magnoliaceae), các nghiên cứu trong nước và quốc tế về đặc điểm lâm học, sinh thái, tái sinh rừng, công nghệ gieo ươm các loài cây bản địa như Lát hoa, Chò đãi, Huỷnh, Giổi xanh, Trai lý. Đồng thời, trình bày khái quát điều kiện tự nhiên, địa hình vòng cung Lô - Gâm, khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi (nhiệt độ trung bình 23,5°C, lượng mưa trung bình 1.400–1.600 mm), mạng lưới thủy văn sông Gâm - sông Năng, các nhóm đất Feralit chính và tình hình kinh tế - xã hội, dân cư của các xã vùng đệm và vùng lõi thuộc huyện Na Hang.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định chi tiết đối tượng nghiên cứu là loài Giổi ăn hạt mọc tự nhiên dưới đai cao 1.000 m tại các xã Thanh Tương, Sơn Phú, Khâu Tinh. Thiết lập 6 nội dung nghiên cứu chuyên biệt gồm hình thái, vật hậu, sinh thái phân bố, cấu trúc quần xã thực vật, tái sinh tự nhiên và hiện trạng bảo tồn cùng các tác động nhân sinh. Mô tả toàn bộ hệ thống công thức toán học và quy trình kỹ thuật lập tuyến, lập OTC, đào phẫu diện đất và xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Giổi ăn hạt
Cây Giổi ăn hạt thuộc ngành Hạt kín (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), loài Michelia tonkinensis A.Chev. Cây sinh trưởng theo cấu trúc đơn trục, thân tròn thẳng, gốc có bạnh vè nhỏ, vỏ nhẵn màu xám hoặc nâu nhạt, dày từ 1,0–1,5 cm, thịt vỏ màu vàng hoặc xanh nhạt, giòn và có mùi thơm nhẹ. Cành non nhẵn, mang nhiều lỗ bì và sẹo lá kèm. Tán cây hình tròn, chiếm chiều dày khoảng 1/5 đến 1/4 chiều cao vút ngọn.
| Chỉ tiêu đo đếm |
Giá trị trung bình |
Giá trị lớn nhất (Max) |
Giá trị nhỏ nhất (Min) |
| Đường kính ngang ngực $D_{1.3}$ (cm) |
35,60 |
55,00 |
16,20 |
| Chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ (m) |
17,75 |
25,00 |
10,50 |
| Đường kính tán lá $D_t$ (m) |
5,60 |
8,00 |
3,20 |
Lá cây là dạng lá đơn mọc cách, phiến dai cứng, khi vò nát có mùi thơm tương tự lá hồi. Cuống lá dài từ 1,3–1,9 cm, mặt trên lõm nhẹ. Phiến lá có dạng hình trứng ngược đến xoan, gốc lá hình nêm rộng, đầu lá có mũi tù dài 2–5 mm, gồm 10–12 đôi gân phụ nổi rõ. Kích thước lá phân hóa nhẹ theo tầng tán: lá giữa tán đạt chiều dài trung bình 19,0 cm và chiều rộng 6,0 cm; lá dưới tán đạt kích thước 18,5 x 5,5 cm; lá ngọn tán có kích thước 17,5 x 5,0 cm.
Hoa đơn mọc ở đầu cành hoặc nách lá, cuống hoa dài 2,5–3,5 cm, bao hoa chưa phân hóa rõ thành đài và tràng, hoa màu trắng hoặc vàng nhạt, có mùi thơm, bộ nhị và noãn xếp xoắn ốc trên trục hoa hình trụ kéo dài. Quả thuộc dạng quả đại kép hình củ lạc có eo thắt, gồm 3–5 đại phát triển hoàn thiện; mặt ngoài vỏ quả có nhiều chấm bì khổng; mỗi đại chứa từ 2–6 hạt. Khi chín, vỏ đại nứt làm hai mảnh để lộ hạt có lớp áo màu đỏ tươi.
Vật hậu học ghi nhận cây thường xanh quanh năm. Cây bắt đầu ra lá non vào tháng 1–2; mùa hoa rộ vào tháng 3–4; hoa tàn vào tháng 7. Quả non hình thành từ tháng 5–6, chuyển sang quả già vào tháng 7–8 và chín rộ trong tháng 9–10. Khi quả chín, vỏ chuyển sang màu nâu nhạt. Hạt chín rụng tự nhiên nhưng phần vỏ đại có thể tồn tại trên cành đến cuối tháng 11. Thời điểm thu hái quả giống thích hợp nhất là từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10.
Đặc điểm sinh thái, lập địa và thổ nhưỡng
Tại Na Hang, Giổi ăn hạt chỉ xuất hiện trên các sườn đồi núi đất, hoàn toàn không phân bố trên địa hình núi đá vôi. Cây phân bố tập trung ở đai độ cao từ 450 m đến 900 m, trên các sườn dốc dao động từ 12° đến 45°, chủ yếu ở các hướng dốc Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc và Tây Nam. Mật độ cá thể phân bố nhiều nhất tại xã Thanh Tương.
Kết quả đào 3 phẫu diện đất tại 3 OTC thuộc trạng thái rừng phục hồi sau khai thác (trạng thái IIIa1) cho thấy:
- Tầng A: Chiều dày biến thiên từ 7 cm (OTC1), 10 cm (OTC2) đến 13 cm (OTC3); màu xám; thành phần cơ giới thịt nhẹ; cấu tượng hạt mịn; độ chặt xốp; đất ẩm; tỷ lệ đá lẫn từ 15–25%; tỷ lệ rễ cây chiếm từ 20–30%.
- Tầng B: Chiều dày từ 35–52 cm; màu vàng xám hoặc xám; thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình; cấu tượng hạt thô đến mịn; độ chặt hơi xốp; tỷ lệ đá lẫn 15–25%; tỷ lệ rễ cây giảm xuống 10–20%.
- Tầng C: Chiều dày xuất hiện từ độ sâu trên 55–82 cm; màu vàng đến xám vàng; thành phần cơ giới thịt trung bình; cấu tượng hạt thô; đất chặt đến hơi chặt; tỷ lệ rễ cây chỉ còn 4–6%.
Cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có Giổi ăn hạt phân bố
Các lâm phần khảo sát thuộc trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất IIIa1. Độ tàn che trung bình của tán rừng đạt 0,48 (dao động từ 0,42 ở OTC1; 0,46 ở OTC2 đến 0,56 ở OTC3).
| Ô tiêu chuẩn |
Mật độ lâm phần (cây/OTC) |
Mật độ Giổi ăn hạt (cây/OTC) |
Tỷ lệ cá thể Giổi (%) |
Chỉ số giá trị quan trọng ($IV%$) |
Công thức tổ thành tầng cây cao |
| OTC 1 |
34 |
2 |
5,88 |
8,87 |
$13,04Sv + 11,44Tr + 9,22Dg + 9,23MTr + 9,19G + 8,87Gah + 6,67B + 5,03Bđ + 43,20Lk$ |
| OTC 2 |
39 |
1 |
2,56 |
5,64 |
$13,74Tr + 12,36Ngh + 12,19Mtr + 8,19Sv + 7,28S + 6,90Tt + 5,84Dđr + 5,84Tb + 5,64Gah + 20,02Lk$ |
| OTC 3 |
41 |
3 |
7,32 |
5,97 |
$12,97Mt + 10,50Tr + 10,27Tb + 9,77Mck + 9,95Nn + 8,11Sv + 6,09Sh + 5,95S + 5,97Gah + 20,43Lk$ |
(Ký hiệu loài: Sv: Sung vè; Tr: Trẩu; Dg: Dẻ gai; MTr: Muồng trắng; G: Gáo; Gah: Giổi ăn hạt; B: Bứa; Bđ: Bồ đề; Ngh: Nghiến; Tt: Trám trắng; S: Sồi/Sấu; Dđr: Đu đủ rừng; Tb: Thôi ba; Mck: Mè cò ke; Nn: Núc nác; Sh: Sồi hương; Lk: Loài khác).
Mật độ tầng cây cao dao động từ 340 đến 410 cây/ha. Số lượng Giổi ăn hạt chỉ đạt từ 1–3 cây trong mỗi OTC diện tích 1.000 m² (tương đương 10–30 cây/ha). Vì tỷ lệ tham gia số lượng cá thể luôn nhỏ hơn 25% (dao động từ 2,56% đến 7,32%), theo phân cấp sinh thái rừng, Giổi ăn hạt thuộc nhóm loài "ít gặp" trong lâm phần tự nhiên. Các loài cây gỗ đi kèm chủ yếu bao gồm Gáo (Neolamarckia cadamba), Sung vè (Ficus racemosa), Dẻ gai (Fagus sylvatica), Bứa (Garcinia oblongifolia), Trẩu (Vernicia montana), Muồng trắng (Zenia insignis), Núc nác (Oroxylum indicum), Sấu (Dracontomelon duperreanum), Vàng anh (Saraca dives).
Đặc điểm tái sinh tự nhiên
Hoạt động điều tra trên tổng diện tích 375 m² của 15 ô dạng bản thuộc 3 OTC ghi nhận mật độ cây tái sinh của Giổi ăn hạt ở mức rất thấp:
- Tại OTC1 (125 m² ODB): Ghi nhận 2 cây tái sinh, chiều cao 140 cm, phẩm chất tốt, 100% nguồn gốc từ hạt.
- Tại OTC2 (125 m² ODB): Không ghi nhận cá thể Giổi ăn hạt tái sinh nào.
- Tại OTC3 (125 m² ODB): Ghi nhận 1 cây tái sinh, chiều cao 190 cm, phẩm chất tốt, nguồn gốc từ hạt.
- Tổng hợp trên 2 OTC có xuất hiện tái sinh (diện tích 250 m²), mật độ cây tái sinh quy đổi đạt 15 cây/ha. Toàn bộ các cá thể tái sinh ghi nhận đều sinh trưởng từ hạt, hoàn toàn không xuất hiện tái sinh chồi.
Công thức tổ thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng tại các OTC có sự chi phối mạnh của các loài cây gỗ tiên phong ưa sáng khác:
- OTC 1 (14 loài tái sinh): $12,77Mđ + 10,64S + 10,64Dg + 8,51Ln + 8,51Tđ + 8,51Tv + 8,51Lt + 6,38N + 6,38Tmx + 6,38Td + 12,78Lk$
- OTC 2 (16 loài tái sinh): $14,58S + 12,50Nn + 8,33G + 8,33Va + 8,33Tt + 8,33M + 6,25Lt + 6,25C + 6,25Bđ + 20,83Lk$
- OTC 3 (19 loài tái sinh): $11,76N + 9,8Kg + 9,8Xt + 7,84Lm + 7,84Tđ + 7,84Tv + 5,88M + 5,88Kld + 33,32Lk$
Khảo sát xung quanh gốc các cây mẹ trưởng thành cho thấy cây tái sinh xuất hiện thưa thớt do hạt rụng bị người dân địa phương thu nhặt triệt để hoặc bị các loài gặm nhấm, chim thú tiêu thụ. Lớp thảm tươi và cây bụi dày đặc cũng tạo rào cản che phủ cơ học làm giảm khả năng tiếp xúc của hạt với đất khoáng.
Hiện trạng sử dụng và tác động nhân sinh
Phỏng vấn người dân bản địa chỉ ra rằng hạt Giổi là nguồn lâm sản ngoài gỗ có giá trị trao đổi thương mại cao, được dùng làm gia vị truyền thống và làm thuốc chữa tiêu chảy. Gỗ Giổi ăn hạt được ưa chuộng để làm cột nhà, xẻ ván và đóng đồ gia dụng vì thớ mịn, nhẹ, ít cong vênh và không bị mối mọt. Đánh giá trên các tuyến điều tra cho thấy rừng tự nhiên tại khu vực chịu áp lực từ các hoạt động chăn thả gia súc tự do (trâu, bò), khai thác gỗ trộm, thu hái hạt kiệt quệ và phát đốt nương rẫy ven rừng.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp toàn diện các chỉ số sinh thái, hình thái và tái sinh của loài Giổi ăn hạt; khẳng định tính cấp thiết của việc bảo tồn nguồn gen; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp lâm sinh và quản trị tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã xác lập hệ thống dữ liệu thực địa định lượng về loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang:
- Cung cấp số liệu đo đếm hình thái cá thể trưởng thành trong rừng tự nhiên: Đường kính ngang ngực bình quân đạt 35,60 cm (tối đa 55,00 cm), chiều cao vút ngọn bình quân 17,75 m (tối đa 25,00 m), đường kính tán bình quân 5,60 m.
- Xác định điều kiện lập địa sinh thái đặc thù: Cây chỉ phân bố trên đất núi phát triển trên đá mẹ biến chất hoặc sa thạch, tầng đất dày từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, hoàn toàn vắng mặt trên núi đá vôi; biên độ đai cao từ 450–900 m, độ dốc 12–45°, độ tàn che tầng cây cao bình quân 0,48.
- Xác định vị trí của loài trong cấu trúc quần xã rừng trạng thái IIIa1: Chỉ số giá trị quan trọng $IV%$ đạt từ 5,64% đến 8,87%, mật độ tầng cây cao dao động từ 1–3 cây/OTC 1.000 m² (tỷ lệ 2,56–7,32%), xếp vào nhóm thực vật ít gặp. Tái sinh tự nhiên rất kém (mật độ quy đổi 15 cây/ha), 100% tái sinh từ hạt.
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật lâm sinh: Khoanh vùng bảo vệ nguyên vị (in-situ) các cây mẹ thành thục hiện còn tại xã Thanh Tương; áp dụng các biện pháp phát dọn dây leo, cây bụi mở tán cục bộ xung quanh gốc cây mẹ để kích thích hạt nảy mầm; tổ chức thu hái hạt giống đạt tiêu chuẩn sinh lý vào cuối tháng 9 đến đầu tháng 10 để phục vụ công tác gieo ươm nhân tạo cây con nhằm xúc tiến tái sinh và làm giàu rừng.
- Giải pháp quản lý và xã hội: Phối hợp giữa Hạt kiểm lâm và chính quyền địa phương cắm mốc bảo vệ các quần thể Giổi tự nhiên; quy định chế tài kiểm soát việc thu hái hạt, nghiêm cấm các hành vi chặt cành lấy quả; đẩy mạnh giao đất lâm nghiệp gắn với giao khoán bảo vệ rừng; triển khai các mô hình trồng Giổi ăn hạt quy mô vườn hộ vùng đệm để tạo sinh kế thay thế cho người dân.
Đóng góp của khóa luận: Bổ sung nguồn tư liệu thực địa có hệ thống về lâm học và sinh thái học của Michelia tonkinensis A.Chev tại Na Hang, làm căn cứ thực tế phục vụ công tác bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp thuộc Nhóm IIA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự ghi nhận:
- Thời gian nghiên cứu thực địa bị giới hạn trong 5 tháng (tháng 8/2014 đến tháng 12/2014), không bao quát được toàn bộ một chu kỳ sinh sản trong năm. Do đó, một số dữ liệu về giai đoạn nở hoa (tháng 3–4) và quả non (tháng 5–6) mang tính kế thừa từ tài liệu tham khảo trước đó kết hợp hồi ức phỏng vấn người dân.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung ở đai độ cao dưới 1.000 m trên địa bàn 3 xã (Thanh Tương, Sơn Phú, Khâu Tinh), chưa điều tra hết diện tích rừng đặc dụng tại các xã Côn Lôn và thị trấn Na Hang.
- Số lượng cây mẹ trưởng thành và số ô tiêu chuẩn điều tra còn ít do loài phân bố phân tán rải rác trong tự nhiên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:
- Tiếp tục theo dõi vật hậu học liên tục nhiều năm trên các cây tiêu chuẩn để xác định chính xác ảnh hưởng của biến động thời tiết đến năng suất hạt.
- Mở rộng phạm vi điều tra ở các đai cao trên 1.000 m và hoàn thiện quy trình nhân giống vô tính (ghép, giâm hom) cũng như gieo ươm hữu tính phục vụ trồng rừng kinh tế và phục hồi sinh thái.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật trong việc vận dụng phương pháp điều tra thực địa: lập tuyến điều tra, đo đếm cấu trúc tầng tán lâm phần, kỹ thuật đào và mô tả phẫu diện đất, phương pháp giải toán tổ thành $IV%$ và đo đếm tái sinh rừng tự nhiên.
- Cán bộ kỹ thuật thuộc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang và các đơn vị kiểm lâm vùng Đông Bắc trong công tác xây dựng kế hoạch bảo tồn nguồn gen cây bản địa, thiết lập lịch thu hái hạt giống và đề xuất phương án làm giàu rừng đặc dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Cây Giổi ăn hạt trưởng thành tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang có kích thước đo đếm thực tế là bao nhiêu?
Kết quả đo đếm trung bình trên 7 cây trưởng thành trong rừng tự nhiên ghi nhận đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) đạt 35,60 cm (dao động từ 16,20 cm đến 55,00 cm); chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt 17,75 m (dao động từ 10,50 m đến 25,00 m); đường kính tán lá ($D_t$) đạt 5,60 m (dao động từ 3,20 m đến 8,00 m).
2. Loài Giổi ăn hạt tại khu vực Na Hang phân bố trên những dạng lập địa nào?
Giổi ăn hạt chỉ xuất hiện trên các sườn đồi núi đất (đất Feralit thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất dày, tỷ lệ đá lẫn 15–25%), hoàn toàn không phân bố trên núi đá vôi. Cây sinh trưởng ở đai độ cao từ 450 m đến 900 m, độ dốc từ 12° đến 45°, trên các hướng phơi Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam và tập trung nhiều nhất tại xã Thanh Tương.
3. Chu kỳ vật hậu của Giổi ăn hạt diễn ra như thế nào và thời điểm nào thích hợp nhất để thu hái hạt giống?
Cây thường xanh quanh năm, ra lá non vào tháng 1–2, mùa hoa nở rộ vào tháng 3–4, hoa tàn vào tháng 7, quả non xuất hiện từ tháng 5–6, quả già tháng 7–8 và quả chín vào tháng 9–10. Để thu hái hạt giống đạt tỷ lệ nảy mầm cao phục vụ gieo ươm, thời điểm thích hợp nhất là từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10 khi vỏ quả bắt đầu nứt chuyển sang màu nâu nhạt.
4. Mật độ và hình thức tái sinh tự nhiên của loài Giổi ăn hạt dưới tán rừng được ghi nhận ra sao?
Mật độ tái sinh tự nhiên của loài rất thấp, chỉ đạt 15 cây/ha (ghi nhận được 3 cây con trên tổng diện tích 250 m² của các ô dạng bản có xuất hiện tái sinh). Toàn bộ 100% cá thể tái sinh đều có nguồn gốc từ hạt, không ghi nhận tái sinh chồi; chiều cao cây con dao động từ 140 cm đến 190 cm và đều có phẩm chất sinh trưởng tốt.
5. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến sự suy giảm của quần thể Giổi ăn hạt trong tự nhiên tại Na Hang?
Sự suy giảm bắt nguồn từ áp lực khai thác gỗ làm nhà và đồ gia dụng; người dân thu hái hạt triệt để làm gia vị và bán thương phẩm khiến nguồn hạt giống rơi rụng tự nhiên bị cạn kiệt; hạt rụng bị động vật rừng tiêu thụ; cùng với tác động chăn thả gia súc tự do và đốt nương rẫy làm tổn hại thảm thực vật tái sinh.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thương đã xác định đầy đủ các đặc tính hình thái, chu kỳ vật hậu, lập địa sinh thái và vị trí của loài Giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev) trong cấu trúc quần xã rừng tự nhiên trạng thái IIIa1 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Kết quả thực địa phản ánh thực trạng quần thể Giổi ăn hạt có mật độ thấp ($IV%$ từ 5,64% đến 8,87%) và khả năng tái sinh tự nhiên suy giảm mạnh (15 cây/ha) do tác động thu hái hạt kiệt quệ và chăn thả gia súc. Các dữ liệu định lượng và giải pháp lâm sinh đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn nguyên vị nguồn gen thực vật quý hiếm Nhóm IIA và phát triển rừng bền vững tại địa phương.