Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC GIAO TIẾP VỚI TRẺ MẪU GIÁO LỚN CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Nghiên cứu về giao tiếp 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Giao tiếp là vấn đề được các nhà triết học quan tâm ngay từ thời cổ đại. Từ giữa thế kỷ XX, vấn đề này được các nhà tâm lý học thực sự quan tâm và giao tiếp trở thành một ngành khoa học - khoa học về giao tiếp.
Bắt đầu từ thời điểm này hàng loạt công trình nghiên cứu về giao tiếp ra đời: Cuốn “Giao tiếp” của ba tác giả Mỹ là Johnson, L. Schalekamp (1956); Tác phẩm “Giao tiếp là đối tượng nghiên cứu về lý luận và thực tiễn” của tập thể các tác giả Lêningrad (1972); “Về bản chất con người” của X.Xôcôpnhin (1973); “Tâm lý học giao tiếp” của A. Leonchev (1974); “Giao tiếp là vấn đề của tâm lý học đại cương” của B.Lomov (1975); “Tâm lý học về mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” của Ia. Kolominxki (1976); “Hoạt động và giao tiếp” của A.
Leonchev (1979); “Vấn đề giao tiếp trong tâm lý học” của K. Platonov (1981); “Những khó khăn tâm lý giao tiếp giữa các nhân cách” của E. Surcanova (1985); “Thế giới giao tiếp” của M. Kagan (1988); “Sự phát triển giao tiếp của trẻ em trước tuổi học với bạn cùng tuổi” của A.
Ruzcoi (1989)… Như vậy, giao tiếp đã trở thành vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt, ở Liên Xô, các tác giả đã lĩnh hội và tập trung nghiên cứu rất nhiều các vấn đề về giao tiếp như: giao tiếp với sự hình thành ý thức tự giác của cá nhân, mối quan hệ của cá nhân với nhóm, mối quan hệ giữa nhóm với nhóm… Cũng từ đây giao tiếp đã trở thành một trong những vấn đề nghiên cứu của ngành tâm lý học. Các công trình nghiên cứu về giao tiếp có thể khái quát theo những hướng cơ bản sau: [10]; [35]. - Hướng thứ nhất, coi giao tiếp là quá trình truyền thông tin: Những nhà khoa học theo hướng này là N.Wiener xây dựng mô hình giao tiếp dựa trên lý thuyết thông tin “Lý thuyết về sự truyền thông tin ở các phức hệ có khả năng tự kiểm tra,về các giá 7 trị mạng thông tin được tạo thành từ các từ, các dấu hiệu và tín hiệu”.Senen đã công bố tác phẩm mang tựa đề “Lý thuyết toán học trong giao tiếp”, ông đã đưa ra sơ đồ “Hệ thống tổng hợp trong giao tiếp” bao gồm một số các yếu tố sau như: Máy phát (nguồn gốc thông tin và người truyền đạt nó); Địa điểm thông tin và máy thu; Kênh liên lạc; Nguyên nhân tiếng ồn (khi phát tin).
Perdonici và các cộng sự đã nghiên cứu về giao tiếp ở trẻ em và đi đến kết luận: Giao tiếp là một sự trao đổi hai chiều, một quá trình khép kín [59, tr. Như vậy, có thể mô tả quá trình giao tiếp bằng quá trình truyền tin qua bộ mã hóa thông tin, bộ phát thông tin, môi trường truyền thông tin, bộ nhận thông tin, bộ giải mã và quá trình phản hồi. Nếu bộ giải mã và bộ mã hóa không tương thích với nhau thì thông tin nhận được có thể bị biến đổi. Quan điểm truyền thông tin đã làm đơn giản hóa quá trình giao tiếp bởi việc gạt bỏ các yếu tố tâm lý cá nhân, văn hóa, xã hội ra khỏi quá trình giao tiếp.
Điều này giúp cho các nhà nghiên cứu có điều kiện đi sâu hơn vào khía cạnh trao đổi thông tin nhưng lại làm cho việc lý giải sự biến dạng thông tin trở nên khó khăn. Trong thực tế, yếu tố nhận thức, động cơ, nhu cầu của cá nhân cũng như phẩm chất tâm lý của họ cũng góp phần vào cơ chế lọc thông tin (gồm cảm nhận, suy diễn, chọn lựa, mã hóa và giải mã). Hơn nữa, tính chất quan trọng nhất của giao tiếp là đặc trưng xã hội của nó, nếu xem xét giao tiếp như quá trình truyền thông tin thì chúng ta đã đánh mất tính chất này của giao tiếp. Giao tiếp cần được nghiên cứu như một quá trình truyền đạt thông tin tích cực.
- Hướng thứ hai, coi giao tiếp là một dạng hoạt động: Hướng này do A.N Leonchev khởi xướng vào những năm 30 của thế kỷ XX.Leonchev cho rằng: “Hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực chủ thể - khách thể”[35]. Như vậy, thông qua hoạt động, chủ thể tác động lên khách thể, kết quả là khách thể được biến đổi và nhận thức của chủ thể được cải tạo. Quan điểm của A.Leonchev nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà tâm lý học Liên Xô như B. Họ đã áp dụng quan điểm này trong nghiên cứu một số lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày và thu được những thành tựu nhất định.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên quan điểm của A.Leonchev xem giao tiếp như một dạng của hoạt động. Ông cho rằng, cũng 8 như các dạng hoạt động khác, giao tiếp hướng tới những mục đích xác định, giao tiếp được thúc đẩy bởi những động cơ nhất định, giao tiếp được diễn ra nhờ các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ.Leonchev đưa ra định nghĩa về giao tiếp: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích, có động cơ bảo đảm sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các hoạt động tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, trước hết là ngôn ngữ” [25]. Tác giả Pat Petrie trong tác phẩm “Communication skills for working with children and young people” chỉ ra rằng: Giao tiếp giữa người với người diễn ra ở mọi độ tuổi. Họ nói chuyện, nghe, quan sát và phản ứng lại nhau, trao đổi nhiều loại thông tin bằng nhiều cách khác nhau như dùng nét mặt, cơ thể và giọng nói.
Theo Pat Petrie, giao tiếp là sự trao đổi luôn có ít nhất hai người tham gia và giao tiếp xảy ra khi một người gửi đi thông điệp và người kia nhận nó. Giao tiếp là quá trình hai chiều [87]. - Hướng thứ ba coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với phạm trù hoạt động Thập kỷ 70 của thế kỷ XX, B.Lomov khởi xướng quan điểm coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với phạm trù hoạt động.Lomov, giao tiếp là quá trình đa chiều đồng chủ thể. Hoạt động và giao tiếp khác nhau về ý nghĩa xã hội của chúng.
Bất kỳ một hoạt động nào cũng hướng tới cải tạo khách thể. Còn giao tiếp bảo đảm tổ chức mọi người cho hoạt động chung, bảo đảm sự liên hệ qua lại của mọi người. Ông viết: “Kết quả của giao tiếp không phải là đối tượng được cải tạo (vật chất hoặc lý tưởng) mà là quan hệ với một người khác, với những người khác”[35]. Như vậy, kết quả của giao tiếp còn bao gồm cả việc cải tạo quan hệ giữa các bên tham gia giao tiếp.
Kết quả này ở những cá nhân khác nhau rất khác nhau về số lượng cũng như chất lượng. Trong luận án này chúng tôi chọn quan điểm của A.Leonchev coi giao tiếp là một dạng hoạt động làm tư tưởng chỉ đạo và có kế thừa quan điểm của B.Lomov về tính đa chiều, đồng chủ thể của giao tiếp. Chúng tôi nhất trí với các nhà tâm lý học Macxit rằng: Cuộc sống của con người là một chuỗi các hoạt động kế tiếp nhau và con người là chủ thể của các hoạt động đó. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân.
Hoạt động với tư cách là một phạm trù chung nhất bao hàm hai dạng hoạt động chủ yếu là hoạt động đối tượng và hoạt động giao tiếp. Hoạt động có đối 9 tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể. Hoạt động giao tiếp phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể. Hoạt động và giao tiếp là hai mặt thống nhất của cuộc sống con người, của sự phát triển tâm lý người [2]; [3]; [72].
Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về giao tiếp cũng chỉ mới được tiến hành từ cuối những năm 70 trở lại đây. Giao tiếp, ứng xử là vấn đề luôn được mọi người quan tâm và coi trọng trong xã hội của chúng ta. Nghệ thuật giao tiếp, ứng xử được mọi người coi là một phần trong sự hoàn thiện nhân cách của con người, đặc biệt là trong giao tiếp sư phạm của thầy cô giáo với học sinh. Bởi, giao tiếp, ứng xử sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển tâm lý và nhân cách của học sinh.
Vì vậy, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về vấn đề này. Các công trình nghiên cứu về giao tiếp ở Việt Nam chủ yếu đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận như khái niệm, bản chất, chức năng, phân loại giao tiếp, kỹ năng giao tiếp và vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của cá nhân. Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu sau: Đỗ Long (1980) với tác phẩm “C.Mác và phạm trù giao tiếp”; Bùi Văn Huệ (1981) với tác phẩm “Bàn về phạm trù giao tiếp”; Trần Trọng Thủy (1981) với các tác phẩm “Giao tiếp, tâm lý, nhân cách”, “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách trẻ”; Trần Trọng Thuỷ (1985) với tác phẩm “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm”; Phạm Minh Hạc (1988) với tác phẩm “Giao lưu là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý”; Nguyễn Văn Lê (1992) với tác phẩm “Vấn đề giao tiếp”; Nguyễn Khắc Viện (1994) với tác phẩm “Maketing xã hội hay truyền thông giao tiếp”; Nguyễn Ngọc Bích (1995) với tác phẩm “Vai trò của giao tiếp trong quan hệ xã hội và quan hệ nhân cách”; Trần Tuấn Lộ (1995) với các tác phẩm “Tâm lý học giao tiếp”, “Khoa học và nghệ thuật giao tiếp”; Nguyễn Thị Oanh (1995) với tác phẩm “Tâm lý học truyền thông và giao tiếp”; Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Sinh Huy (1996) với tác phẩm “Nhập môn tâm lý học giao tiếp”; Nguyễn Quang Uẩn (1998) với tác phẩm “Giao tiếp và tâm lý”. Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về giao tiếp ở Việt Nam thành hai hướng cơ bản sau: - Hướng thứ nhất: Hướng nghiên cứu giao tiếp là điều kiện để thực hiện các quan hệ xã hội và liên nhân cách Với xu hướng này, các nhà nghiên cứu tiếp cận bằng cách mở rộng khái 10 niệm giao tiếp và coi giao tiếp là quá trình mà các cá nhân thực hiện các quan hệ xã hội và liên nhân cách.