Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9.01) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân, bảo vệ năm 2018 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Vũ Dũng, mang tên: Đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí nền tảng của bậc học giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trải qua thời gian sinh hoạt ở trường từ 8 đến 10 tiếng mỗi ngày cùng giáo viên. Trong khoảng thời gian này, giáo viên vừa đảm nhận nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, vừa thay thế người mẹ giáo dục trẻ, đồng thời chuẩn bị tâm lý, nhận thức, ngôn ngữ và kỹ năng xã hội để trẻ bước vào lớp 1. Hoạt động giao tiếp sư phạm là thành phần cơ bản quyết định hiệu quả giáo dục. Mặc dù Chương trình giáo dục mầm non và một số tài liệu hướng dẫn kỹ năng ứng xử sư phạm đã đề cập đến các quy tắc ứng xử, nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn dưới góc độ tâm lý học tại Việt Nam vẫn còn thiếu vắng. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ lý luận và thực tiễn về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án.
  2. Hệ thống hóa và xác định cơ sở lý luận cơ bản về giao tiếp, đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non.
  3. Nghiên cứu thực trạng đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non, đồng thời làm rõ các yếu tố ảnh hưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  4. Đề xuất kiến nghị và biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo lớn.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biểu hiện của đặc điểm nội dung giao tiếp và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Luận án tìm hiểu 3 khía cạnh của nội dung giao tiếp (trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, ảnh hưởng lẫn nhau) và 2 hình thức giao tiếp (giao tiếp ngôn ngữ, giao tiếp phi ngôn ngữ). Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào chiều tác động từ giáo viên đến trẻ mẫu giáo lớn; chiều ngược lại từ trẻ đến giáo viên chưa khảo sát được trong khuôn khổ công trình.
  • Khách thể và địa bàn: Khảo sát thực tế được triển khai trên 420 giáo viên mầm non tại 11 trường mầm non (công lập, tư thục, thực hành) trên địa bàn thành phố Hà Nội, bao gồm các quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm và huyện Đông Anh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành 4 mảng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu về giao tiếp: Trên bình diện quốc tế, các công trình được phân hóa thành ba hướng tiếp cận lý thuyết chính:

  • Hướng coi giao tiếp là quá trình truyền thông tin: N. Wiener với lý thuyết thông tin, C. Shannon với mô hình toán học về giao tiếp (máy phát, kênh truyền, máy thu, tiếng ồn), Perdonici với mô hình giao tiếp trẻ em như quá trình trao đổi hai chiều. Hướng này tập trung vào cơ chế mã hóa và giải mã thông tin nhưng lược bỏ một số thuộc tính tâm lý - xã hội.
  • Hướng coi giao tiếp là một dạng hoạt động: Do A.N. Leontiev khởi xướng vào những năm 1930 và phát triển vào những năm 1970, xem giao tiếp có mục đích, động cơ và sử dụng các phương tiện đặc thù (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) để thiết lập quan hệ xã hội. Quan điểm này được củng cố bởi B.G. Ananiev và Pat Petrie (1987).
  • Hướng coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động: Do B.F. Lomov khởi xướng vào thập niên 1970, nhấn mạnh giao tiếp là quá trình đa chiều, đồng chủ thể, có kết quả là sự cải tạo mối quan hệ giữa người với người.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về giao tiếp phát triển từ cuối những năm 1970, chia thành hai xu hướng: hướng coi giao tiếp là điều kiện thực hiện các quan hệ xã hội và liên nhân cách (Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Đỗ Long, Hoàng Anh, Vũ Dũng) và hướng coi giao tiếp là quá trình truyền đạt thông tin (Đỗ Long, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Lê).

Thứ hai, các nghiên cứu về giáo viên mầm non: Các tác giả Liên Xô như A.N. Leontiev, A. Petrovsky, V. Krutetsky, V. Smych, Grebensicova (1968), L. Semusina (1976), E. Panko (1984, 1985, 1986), V. Slastenin (1984) đã phân tích sâu cấu trúc nhân cách, kỹ năng nghề nghiệp và các tình huống sư phạm của giáo viên mầm non. Các tác giả phương Tây như Cooke, Tassoni, Pat Petrie, H.R. Schaffer, Sheridan, B. Tizard và M. Hughes, Kevorkian (2005), L. Bloom, Reynell, Maria Montessori nghiên cứu các điều kiện tương tác, 10 nguyên tắc giao tiếp và vai trò kích thích ngôn ngữ của giáo viên. Tại Việt Nam, các công trình của Ngô Công Hoàn (1992), Nguyễn Thạc (1995), Hồ Lam Hồng (2007), Trần Thị Quốc Minh (2000), Nguyễn Minh Ngọc (2008), Nguyễn Văn Lũy (2007) tập trung vào năng lực nghề nghiệp, ứng xử sư phạm và kỹ năng làm chủ cảm xúc của giáo viên.

Thứ ba, các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ mẫu giáo: Vấn đề được mở đầu bởi L.S. Vygotsky, M.I. Lisina (1974, 1978), A.P. Usova (1976), V.S. Mukhina (1988), A. Ruzskaia (1988), E.O. Smirnova, D.B. Elkonin (phân chia hai nhóm quan hệ: "trẻ em - người lớn xã hội" và "trẻ em - đồ vật xã hội"), A. Perret-Clermont, M. Colwell, E. Lindsey (2003), Pushaw, Tassoni. Ở Việt Nam, Nguyễn Thạc, Lê Xuân Hồng, Nguyễn Xuân Thức, Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thanh Huyền đã khảo sát nhu cầu giao tiếp, xung đột nhóm chơi và tính tích cực giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi.

Thứ tư, các nghiên cứu về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ của giáo viên mầm non: Các công trình của Maria Montessori, C.E. Snow, M.S. Burns, P. Griffin (1998), B. Hart, T.R. Risley (1999), E. Hoff, L. Naigles (2002), P.L. Harris (2005), R. Ensor, C. Hughes (2008), S. Cooper, V.A. Sukhomlinsky, A.S. Makarenko, S. Green, Leeds-Hurwitz, M.E. Guffey; cùng các tác giả trong nước như Ngô Công Hoàn, Trần Văn Tính, Vũ Mạnh Quỳnh đã đề cập đến các khía cạnh nội dung và phương tiện giao tiếp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận giao tiếp sư phạm dưới dạng kỹ năng chung, quy tắc ứng xử hoặc phân tích hành vi của một phía (trẻ em hoặc giáo viên) trong hoạt động vui chơi. Luận án của Nguyễn Thị Hồng Vân định vị vào khoảng trống: khảo sát đồng thời cả hai trục nội dung (trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, ảnh hưởng lẫn nhau) và hình thức (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) trong hoạt động giao tiếp của giáo viên với nhóm trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trên cơ sở lý luận tâm lý học hoạt động, gắn với thực tiễn các cơ sở mầm non tại Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hai hướng tiếp cận phương pháp luận cơ bản:

  • Tiếp cận từ góc độ tâm lý học hoạt động: Lấy quan điểm của A.N. Leontiev làm nền tảng chỉ đạo, xem giao tiếp là một dạng hoạt động có mục đích, có động cơ và sử dụng các phương tiện chuyên biệt; đồng thời kết hợp quan điểm của B.F. Lomov về tính đa chiều và bản chất đồng chủ thể của quan hệ người - người.
  • Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu đặc điểm giao tiếp trong sự tác động qua lại tổng hòa giữa các yếu tố chủ quan và khách quan, giữa giáo viên và trẻ, giữa khâu quản lý và thực hành sư phạm.

Khái niệm trung tâm được tác giả xác lập:

  • Giao tiếp: Là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện những mục đích nhất định.
  • Đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp: Là những nét riêng biệt, đặc trưng của mặt bên trong (nội dung: trao đổi thông tin, cảm xúc, ảnh hưởng) và mặt bên ngoài (hình thức: phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) của quá trình tiếp xúc.
Thành tố Cấu trúc phân tích theo luận án Chỉ báo cụ thể được khảo sát
Nội dung giao tiếp 1. Trao đổi thông tin Sức khỏe của trẻ; đặc điểm cá nhân trẻ; khó khăn trẻ gặp phải; thành viên gia đình trẻ; bạn bè của trẻ.
2. Trao đổi cảm xúc Cảm xúc tích cực (vui vẻ, trìu mến, động viên); cảm xúc tiêu cực (cáu gắt, thờ ơ, bực bội).
3. Ảnh hưởng lẫn nhau Tác động hành vi, uốn nắn, hướng dẫn, làm gương, điều chỉnh nhận thức và việc thực hiện hoạt động của trẻ.
Hình thức giao tiếp 1. Giao tiếp ngôn ngữ Ngôn ngữ tích cực (từ ngữ trong sáng, dễ hiểu, câu miêu tả, giải thích, ngữ điệu dịu dàng); ngôn ngữ tiêu cực (quát mắng, mệnh lệnh cứng nhắc).
2. Giao tiếp phi ngôn ngữ Phi ngôn ngữ tích cực (ánh mắt dịu hiền, nét mặt vui tươi, cử chỉ ân cần, tiếp xúc trực tiếp như ôm ấp, vỗ về); phi ngôn ngữ tiêu cực (cau mày, ánh mắt nghiêm khắc, cử chỉ xua đuổi).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được sử dụng:

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Phân tích Điều lệ trường mầm non, Chương trình giáo dục mầm non, Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi để xây dựng khung lý thuyết và tiêu chí khảo sát.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát thử nghiệm trên 60 giáo viên; điều tra chính thức trên 420 giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp mẫu giáo lớn.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 30 giáo viên mầm non nhằm thu thập thông tin định tính về động cơ, thái độ và những khó khăn trong giao tiếp với trẻ.
  4. Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ thực tế của giáo viên trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục ở trường mầm non.
  5. Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà tâm lý học, cán bộ quản lý giáo dục mầm non về thang đo và tính phù hợp của hệ thống tiêu chí.
  6. Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích hồ sơ và thực hành sư phạm điển hình của 03 giáo viên mầm non đại diện cho các nhóm kinh nghiệm, loại hình trường khác nhau.
  7. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), tỷ lệ phần trăm (%), phân tích so sánh sai khác (theo độ tuổi, loại hình trường, thâm niên), phân tích tương quan và phân tích hồi quy/dự báo mức độ tác động của các biến số tâm lý.

Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm: 420 bảng hỏi thu thập tại 11 cơ sở giáo dục mầm non tại Hà Nội (các trường mầm non tư thục Đô Rê Mon, Việt Kids, Minh Hải, Bé Gấu, Vinschool, Sao Biển; các trường mầm non thực hành Hoa Thủy Tiên, Hoa Hồng, Hoa Sen; trường mầm non công lập Mai Dịch và Đại Mạch), các biên bản phỏng vấn sâu, nhật ký quan sát sư phạm và biên bản nghiên cứu trường hợp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non

Chương này dành cho việc phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề từ thời cổ đại đến hiện đại, tập trung vào ba dòng lý thuyết giao tiếp lớn trên thế giới (truyền thông tin, hoạt động, quan hệ đa chiều đồng chủ thể). Tác giả tổng hợp các quan điểm của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ), Tây Âu, Mỹ và các nhà tâm lý học Việt Nam về hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non, đặc điểm nhận thức - giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi. Luận điểm trọng tâm của chương là: giao tiếp của giáo viên mầm non mang bản chất kép (vừa mang tính chất tình cảm người mẹ chăm sóc, vừa mang tính chất chuẩn mực sư phạm người thầy). Tác giả chỉ ra rằng những nghiên cứu trước đây mới dừng lại ở kỹ năng riêng lẻ hoặc phân tích một chiều hành vi, chưa tạo dựng được mô hình thống nhất phân tích đặc điểm cả về nội dung và hình thức giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo lớn.

Chương 2: Cơ sở lý luận về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non

Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của các khái niệm công cụ. Tác giả xác định nội dung giao tiếp phản ánh mặt bên trong (trả lời câu hỏi: giao tiếp về vấn đề gì?), bao gồm ba thành tố: trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc và sự ảnh hưởng lẫn nhau. Hình thức giao tiếp là mặt biểu hiện bên ngoài (trả lời câu hỏi: giao tiếp bằng cách nào?), gồm giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ. Chương này cũng phân tích đặc trưng tâm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi (sự phát triển vốn từ đạt khoảng 5.000 từ, tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh, bước đầu hình thành ý thức xã hội và chuẩn bị tâm thế vào lớp 1) cùng nhiệm vụ của giáo viên mầm non theo Điều lệ trường mầm non. Đồng thời, tác giả xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng gồm: nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, động cơ nghề nghiệp, phẩm chất tâm lý, kỹ năng giao tiếp) và nhóm yếu tố khách quan (môi trường sư phạm, loại hình trường lớp, sĩ số học sinh, áp lực công việc, sự phối hợp của phụ huynh).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu qua các giai đoạn: chuẩn bị lý luận, khảo sát thử (N = 60), hiệu chỉnh công cụ đo lường và khảo sát chính thức (N = 420). Các tiêu chí đánh giá được lượng hóa theo thang đo điểm trung bình và độ lệch chuẩn. Hệ thống bảng hỏi, bảng quan sát, khung phỏng vấn sâu được thiết kế bám sát các chỉ báo nội dung (thông tin sức khỏe, gia đình, bạn bè; cảm xúc tích cực/tiêu cực; ảnh hưởng hành vi) và hình thức (ngôn ngữ nói, biểu cảm nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, tiếp xúc thân thể). Chương này thiết lập tính tin cậy của phương pháp bằng việc kết hợp xử lý thống kê toán học với phân tích định tính từ quan sát và 30 biên bản phỏng vấn sâu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non

Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm, thể hiện hệ thống số liệu qua các bảng phân tích chi tiết.

Danh mục các nhóm dữ liệu định lượng chính trong chương:

  • Phân tích khách thể theo độ tuổi, trình độ, thâm niên và loại hình trường.
  • Mức độ biểu hiện của 3 nội dung giao tiếp: trao đổi thông tin (với các bảng chi tiết về sức khỏe, đặc điểm cá nhân, khó khăn, gia đình, bạn bè của trẻ), trao đổi cảm xúc (bảng cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực) và sự ảnh hưởng lẫn nhau.
  • Mức độ biểu hiện của các hình thức giao tiếp: ngôn ngữ tích cực/tiêu cực và phi ngôn ngữ tích cực/tiêu cực.
  • So sánh các khác biệt thống kê về nội dung và hình thức giao tiếp theo 3 tiêu chí: nhóm độ tuổi giáo viên, loại hình trường (công lập so với tư thục), thâm niên công tác.
  • Tương quan và mô hình hồi quy/dự báo: xác định mức độ dự báo của các yếu tố chủ quan và khách quan đến sự thay đổi trao đổi thông tin, cảm xúc tích cực, ảnh hưởng hành vi, sử dụng ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Kết quả thực nghiệm cho thấy trong 3 nội dung giao tiếp, biểu hiện rõ nét nhất là sự ảnh hưởng lẫn nhau (chủ yếu từ phía giáo viên đến trẻ thông qua hướng dẫn, làm gương, uốn nắn hành vi). Về hình thức, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tích cực chiếm ưu thế vượt trội: giáo viên sử dụng từ ngữ trong sáng, gần gũi, câu mang tính chất giải thích, ngữ điệu trìu mến; nét mặt vui tươi, ánh mắt dịu hiền và thường xuyên có hành vi tiếp xúc trực tiếp (ôm, vuốt ve) để tạo sự an tâm cho trẻ. Tác giả cũng phân tích chi tiết 03 trường hợp điển hình nhằm minh chứng cho sự tác động của thâm niên, tính cách và môi trường làm việc đến hành vi giao tiếp cụ thể trong lớp học; đồng thời đề xuất 4 nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho đội ngũ giáo viên mầm non.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về khoa học trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn:

Đóng góp mới về lý luận:

  • Hệ thống hóa và xác định cơ sở lý luận về đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non, làm rõ bản chất mối quan hệ giữa mặt bên trong (nội dung) và mặt bên ngoài (hình thức) của giao tiếp sư phạm mầm non.
  • Xây dựng khái niệm mới: Đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non, chỉ rõ cấu trúc ba thành tố nội dung (trao đổi thông tin, trao đổi cảm xúc, ảnh hưởng lẫn nhau) và hai thành tố hình thức (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ) gắn với lứa tuổi 5 - 6 tuổi.
  • Đóng góp vào việc làm sáng tỏ lý luận chuyên ngành về tâm lý học giao tiếp sư phạm, tâm lý học ứng xử và tâm lý học lứa tuổi mầm non tại Việt Nam.

Đóng góp mới về thực tiễn:

  • Đưa ra bức tranh thực trạng về mức độ biểu hiện nội dung và hình thức giao tiếp của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội: chứng minh sự ảnh hưởng lẫn nhau là nội dung có biểu hiện rõ nét nhất; hình thức giao tiếp chủ đạo là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tích cực (dùng từ ngữ giản dị, giải thích rõ ràng, ngữ điệu trìu mến, ánh mắt dịu hiền, nét mặt tươi vui, cử chỉ ân cần, tiếp xúc trực tiếp).
  • Phân tích sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm giáo viên theo độ tuổi, loại hình trường (công lập và ngoài công lập) và thâm niên công tác.
  • Lượng hóa mức độ tương quan và mức độ dự báo của các yếu tố chủ quan (nhận thức, kỹ năng, sự tự chủ cảm xúc) và khách quan (áp lực công việc, môi trường sư phạm, quan hệ với phụ huynh) đối với sự biến đổi hành vi giao tiếp của giáo viên.
  • Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục cụ thể nhằm hỗ trợ giáo viên lựa chọn nội dung và phương tiện giao tiếp phù hợp với trẻ mẫu giáo lớn; đưa ra các khuyến nghị ứng dụng đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non và các nhà quản lý trường mầm non trong việc xây dựng chương trình bồi dưỡng chuyên môn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi tương tác: Mặc dù giao tiếp về bản chất là quá trình tác động qua lại hai chiều giữa hai chủ thể (giáo viên và trẻ), luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu chiều tác động từ phía giáo viên mầm non đến trẻ mẫu giáo lớn, chưa khảo sát được chiều phản hồi và tác động ngược lại từ phía trẻ đến giáo viên.
  • Về địa bàn và khách thể nghiên cứu: Khảo sát thực tiễn chỉ được thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội (với 11 trường mầm non tại các quận nội thành và huyện ngoại thành Đông Anh), chưa mở rộng khảo sát sang các địa phương, vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa khác biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu tương tác hai chiều đồng chủ thể, tìm hiểu phản ứng tâm lý, mức độ tiếp nhận và hành vi phản hồi của trẻ mẫu giáo lớn đối với các tác động giao tiếp của giáo viên.
  • Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát trên các vùng nông thôn, miền núi hoặc các tỉnh thành khác để kiểm chứng tính phổ quát và sự khác biệt vùng miền về đặc điểm giao tiếp sư phạm mầm non.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học mầm non: Có thể sử dụng Chương 1 và Chương 2 để làm tài liệu nghiên cứu tổng quan, tham khảo khung khái niệm và hệ thống chỉ báo đo lường nội dung - hình thức giao tiếp sư phạm; sử dụng Chương 3 để tham khảo thiết kế công cụ bảng hỏi và phương pháp điều tra thực địa.
  • Giảng viên các trường sư phạm đào tạo giáo viên mầm non: Có thể khai thác các số liệu và mô hình phân tích tại Chương 4 để đưa vào giáo trình, bài giảng chuyên đề về "Giao tiếp sư phạm mầm non", "Tâm lý học trẻ em" hoặc xây dựng chương trình tập huấn kỹ năng làm chủ cảm xúc và kỹ năng sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ cho sinh viên.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và hiệu trưởng các trường mầm non: Tham khảo các kiến nghị và nhóm biện pháp tâm lý - giáo dục ở phần cuối Chương 4 và phần Kết luận để lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ, đánh giá văn hóa giao tiếp trong nhà trường, đồng thời bố trí khối lượng công việc hợp lý giúp giáo viên giảm áp lực tâm lý khi tương tác với trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm đặc điểm nội dung và hình thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo lớn của giáo viên mầm non được luận án định nghĩa như thế nào? Luận án định nghĩa: Đó là những nét riêng biệt, đặc trưng của mặt bên trong (nội dung) và mặt bên ngoài (hình thức) của quá trình tiếp xúc giữa giáo viên mầm non và trẻ mẫu giáo lớn; thông qua đó giáo viên và trẻ trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện những mục đích giáo dục nhất định.

2. Khách thể và địa bàn khảo sát thực tế của luận án bao gồm những ai và ở đâu? Khảo sát thực tiễn được triển khai trên tổng số 420 giáo viên mầm non trực tiếp dạy lớp mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tại 11 trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội (bao gồm các trường công lập, tư thục, thực hành tại quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm và huyện Đông Anh). Ngoài ra, tác giả tiến hành điều tra thử trên 60 giáo viên, phỏng vấn sâu 30 giáo viên và thực hiện nghiên cứu điển hình trên 03 trường hợp.

3. Ba thành tố nội dung giao tiếp được khảo sát trong luận án là gì và thành tố nào có biểu hiện rõ nét nhất? Ba thành tố nội dung giao tiếp gồm: trao đổi thông tin (sức khỏe, đặc điểm cá nhân, khó khăn, gia đình, bạn bè của trẻ), trao đổi cảm xúc (tích cực và tiêu cực) và sự ảnh hưởng lẫn nhau. Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy thành tố có biểu hiện rõ nét nhất là sự ảnh hưởng lẫn nhau (chủ yếu thể hiện qua sự tác động của giáo viên nhằm uốn nắn, hướng dẫn, làm gương và điều chỉnh hành vi của trẻ).

4. Hình thức giao tiếp đặc trưng của giáo viên mầm non với trẻ mẫu giáo lớn được ghi nhận trong nghiên cứu là gì? Hình thức giao tiếp đặc trưng là giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tích cực. Về ngôn ngữ, giáo viên sử dụng từ ngữ trong sáng, gần gũi, dễ hiểu, dùng câu có tính chất miêu tả, lý giải và ngữ điệu nhẹ nhàng, trìu mến. Về phi ngôn ngữ, giáo viên thể hiện qua ánh mắt dịu hiền, nét mặt vui tươi, cử chỉ ân cần và thực hiện các hành vi tiếp xúc cơ thể trực tiếp (bế bồng, ôm ấp, vỗ về) để mang lại cảm giác an toàn cho trẻ.

5. Luận án chỉ ra những nhóm yếu tố nào ảnh hưởng đến nội dung và hình thức giao tiếp của giáo viên? Luận án chỉ ra hai nhóm yếu tố: nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức về nghề nghiệp, động cơ làm việc, phẩm chất tâm lý cá nhân, kỹ năng giao tiếp và khả năng tự chủ cảm xúc của giáo viên) và nhóm yếu tố khách quan (loại hình trường lớp, thâm niên công tác, áp lực công việc, sĩ số học sinh, môi trường sư phạm và sự phối hợp từ phía phụ huynh học sinh). Mức độ dự báo của các yếu tố này đối với từng khía cạnh giao tiếp đã được lượng hóa qua các mô hình hồi quy.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Vân là công trình nghiên cứu chuyên khảo về hoạt động giao tiếp của giáo viên mầm non với trẻ 5 - 6 tuổi dưới góc độ tâm lý học hoạt động. Luận án đã hệ thống hóa khung lý thuyết, xác lập khái niệm và lượng hóa thực trạng biểu hiện của 3 nội dung giao tiếp cùng 2 hình thức giao tiếp trên mẫu khảo sát 420 giáo viên tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu khẳng định ưu thế của các hình thức giao tiếp tích cực và chỉ rõ sự ảnh hưởng lẫn nhau là nội dung thể hiện đậm nét nhất trong tương tác sư phạm. Những phát hiện thực nghiệm và hệ thống biện pháp tâm lý - giáo dục do luận án đề xuất cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích cho công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non hiện nay.