CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu về đánh giá năng lực giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ của giáo viên mầm non 1. Nghiên cứu về vai trò của giáo viên mầm non đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Trong môi trường nhà trẻ mẫu giáo, mọi tương tác giữa trẻ với người lớn và bạn cùng nhóm trẻ đều ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Đầu tiên, người giáo viên mầm non là nhân tố có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ [59]. GVMN ảnh hưởng tới trẻ không chỉ thông qua lời nói, ngôn ngữ mà còn thông qua cử chỉ, điệu bộ, các tương tác phi ngôn ngữ. Trẻ tiếp nhận và phán đoán được các cử chỉ của người lớn [40]. Bên cạnh đó, sự giao tiếp của trẻ với bạn bè cùng trang lứa cũng ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ [67].
Người GVMN có vai trò thúc đẩy, kết nối, khuyến khích giao tiếp giữa trẻ với trẻ để tác động tích cực tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Tương tác ngôn ngữ của bản thân người giáo viên mầm non và nhận thức của họ về vai trò kết nối trẻ với trẻ là một trong những biểu hiện của năng lực giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Những năm gần đây, năng lực giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ được đề cập đến từ các góc độ tiếp cận khác nhau. Tiếp cận năng lực như là sự hài hòa của kiến thức, kỹ năng và thái độ, thì các nhà nghiên cứu đề cập đến kiến thức và kỹ năng hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ trong rất nhiều cuộc thảo luận và các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau thuộc lĩnh vực GDMN.
Đầu tiên, các nghiên cứu tập trung vào vai trò quan trọng của việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Ngôn ngữ phát triển tốt tạo nền tảng cho khả năng đọc viết và sự thành công trong học tập của trẻ [32][50]. Phát triển ngôn ngữ là một nhiệm vụ góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của trẻ và gắn kết các mặt phát triển khác hình thành nhân cách toàn diện của con người [15]. Các nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em nói chung và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ nói riêng đều khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ trong những năm đầu đời.
Từ vài trò quan trọng của phát triển ngôn ngữ, các công 7 trình khoa học nghiên cứu sâu hơn về phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi mầm non. Trong đó, giáo viên mầm non chính là người sử dụng và thực hiện các phương pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Do vậy, theo tiếp cận chức năng, thì năng lực giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ của GVMN được xem như là khả năng hiểu biết và vận dụng các phương pháp thích hợp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Các giáo trình đào tạo sinh viên sư phạm mầm non riêng về lĩnh vực GDPTNN cho trẻ, cung cấp kiến thức và kỹ năng nền tảng để sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn.
Có thể kể đến các công trình: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [18], Phát triển lời nói cho trẻ [5], Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi [12], Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ [23]. Bên cạnh các nghiên cứu được xuất bản dưới dạng giáo trình, còn có các luận án, các bài báo nghiên cứu GDPTNN cho trẻ mầm non ở các phương diện: đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, đo lường đánh giá sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, phương pháp và thực hành GDPTNN cho trẻ ở các độ tuổi khác nhau: Nghiên cứu mức độ hiểu từ trong quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi [7], Một số đặc điểm tâm lý trong hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi qua hình thức kể chuyện [8] , Quy trình xây dựng và sử dụng bộ công cụ theo dõi, đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ 5 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh [17], Đánh giá và kích thích sự phát triển của trẻ [20]. Tựu chung lại thì nghiên cứu về phương pháp giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ chính là tiếp cận năng lực ở theo thành phần bao gồm kiến thức và kỹ năng sử dụng phương pháp để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Có thể thấy, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ và phương pháp GDPTNN cho trẻ mầm non ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và đạt được nhiều kết quả đáng chú ý.
Các nhà nghiên cứu đã cập nhật những xu hướng mới trong GDPTNN cho trẻ và có những công trình nghiên cứu, vận dụng cho GDMN tại Việt Nam như cụm bài báo của một tác giả về “Xu hướng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trên thế giới” [21] và “Làm quen chữ viết cho trẻ mầm non – quan điểm khoa học và thực tiễn ở trường mầm non” [22] “Hiệu quả của cách tiếp cận ngôn ngữ cân bằng trong việc hướng dẫn trẻ làm quen chữ viết” [21] cho thấy nghiên cứu về GDPTNN cho trẻ ở Việt Nam được quan tâm rõ nét trong lĩnh vực GDMN, chú trọng tiếp cận các quan 8 điểm khoa học mới để phát triển ngôn ngữ cho trẻ về năng lực nghe nói cũng như năng lực đọc viết, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ vào lớp Một. Bộ tài liệu quan trọng của ngành GDMN được GVMN sử dụng như là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động giáo dục trẻ hàng ngày ở trường, đó là “Chương trình giáo dục mầm non” [3], trong đó GDPTNN cho trẻ là một lĩnh vực quan trọng, trở thành nhiệm vụ trọng tâm, được hướng dẫn chỉ đạo cụ thể về mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp giáo dục và các nội dung giáo dục. Trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, trẻ được gửi đến nhà trẻ, trường mẫu giáo từ rất sớm. Độ tuổi trẻ đến trường mầm non thông thường từ 18 tháng tuổi trở lên, đối với một số trường hợp đặc biệt trẻ có thể đến lớp từ 6 tháng tuổi.
Thời lượng trẻ tham gia các hoạt động ở trường mầm non là rất lớn, từ 8 đến 10 tiếng/ ngày. Ảnh hưởng xã hội trong những năm đầu đời tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ sẽ bao gồm ảnh hưởng từ hai môi trường: gia đình và cơ sở giáo dục mầm non. Chính vì vậy, các nghiên cứu về ảnh hưởng của GVMN nói chung và năng lực của GVMN nói riêng được nghiên cứu rất sâu. Yang và các cộng sự [70] thực hiện một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã nhận thấy rằng tổ chức lớp học và hướng dẫn hỗ trợ của giáo viên đóng vai trò quan trọng giúp trẻ dễ dàng tiếp thu từ vựng.
Sự hỗ trợ về cảm xúc của giáo viên có thể tạo ra sự khác biệt trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Những đáp ứng ngôn ngữ hàng ngày của giáo viên đối với trẻ, từ những cử chỉ như: lắng nghe và chờ đợi trẻ nói, nhìn trẻ với ánh mắt khích lệ, điều khiển cuộc thảo luận để luân phiên trẻ nào cũng được nói … đều có ảnh hưởng không nhỏ tới việc trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia giao tiếp bằng ngôn ngữ và qua đó phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Không chỉ ở các hoạt động có chủ đích – các hoạt động dạy học phát triển ngôn ngữ cho trẻ – mà trong cả những tương tác hằng ngày giữa cô và trẻ, lúc cho trẻ ăn, cho trẻ ngủ, hướng dẫn trẻ đi lại, vui chơi, sinh hoạt, thì ngôn ngữ của giáo viên và cách họ tạo thuận lợi cho trẻ nghe hiểu lời nói, trình bày diễn đạt trong giao tiếp thông thường cũng ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, cụ thể là ở năng lực tiếp thu và phát triển vốn từ của trẻ [70]. Khi giáo viên hiểu và vận dụng các chiến lược tương tác kết hợp hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ với trẻ và nhóm trẻ trong lớp học mầm non, họ sẽ tạo ra các 9 tác động đến sự phát triển về vốn từ và khả năng diễn đạt lời nói mạch lạc của trẻ.
Trước đó, Justice [46] cũng nghiên cứu và chỉ ra mức độ giáo viên sử dụng các kỹ thuật tương tác với trẻ có thể dự báo sự phát triển vốn từ và cú pháp trong ngôn ngữ của trẻ. Có thể thấy rằng, do ảnh hưởng của GVMN đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua các đáp ứng ngôn ngữ và tương tác của giáo viên với trẻ, cho nên việc đánh giá các đáp ứng và tương tác này đã được quan tâm. Girolametto và các công sự đã xây dựng thang đánh giá tương tác ngôn ngữ của giáo viên đối với trẻ [37]. Trong đó, hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ được giáo viên sử dụng như là những kỹ năng sư phạm khi tương tác với trẻ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển từ vựng và lời nói mạch lạc của trẻ.
Chính vì vậy, việc bồi dưỡng giáo viên tập trung vào khả năng đáp ứng ngôn ngữ và nhận thức của giáo viên là cần thiết [52]. Không chỉ có các yếu tố trực tiếp như ngôn ngữ của giáo viên hay các kỹ thuật giao tiếp của giáo viên với trẻ ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, mà những yếu tố khác thuộc về ý thức, thái độ, cảm xúc của giáo viên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Nhóm nghiên cứu Cabell và các cộng sự [27] chỉ ra rằng ý thức trách nhiệm của một giáo viên mầm non cũng ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ và khả năng đọc viết của trẻ. Nhóm nghiên cứu của Robert C.
Pianta và các cộng sự khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa niềm tin và nhận thức của giáo viên đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ [25]. Có thể thấy rằng, cả kiến thức, kỹ năng, niềm tin, thái độ, cảm xúc của người GVMN đều là những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Các nghiên cứu đi vào từng khía cạnh khác nhau nhưng đều cho thấy vai trò quan trọng của GVMN đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.