CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non Như chúng ta đã biết tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non là một trong những nhiệm vụ mà hàng năm từ Bộ Giáo dục, Sở giáo dục đến Phòng Giáo dục và các nhà trường đều rất quan tâm chú trọng và nó được thể hiện qua các thông tư, văn bản, kế hoạch, hướng dẫn, điều lệ, báo cáo về hoạt động phòng tránh tai nạn thương tích cụ thể: Thông tư số 13/2010/TT- BGDĐT ngày 15/4/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo “ban hành quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, tránh tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non”; Điều Lệ trường mầm non; Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non (các độ tuổi)- của nhà xuất bản giáo dục Việt nam; Báo cáo tổng kết đề tài V2008-05 “Một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em trong trường mầm non-nguyên nhân và giải pháp” CNĐT-Vũ Yến Khanh; GS. Nguyễn Công Khanh-GS.
Lê Nam Trà, thực hành cấp cứu nhi khoa, nhà xuất bản y học, 2013; PGS.TS Chu Văn Thăng, giáo trình sức khoẻ môi trường-dùng cho đào tạo bác sĩ y học dự phòng, Nhà xuất bản y học 2012; “Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3907: 2011- Xuất bản lần 2-Trường mầm non-yêu cầu thiết kế-Kindergarten-design requirements”; Công văn số: 3676/BGDĐT-GDMN ngày 26/8/2021của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2021-2022 đối với Giáo Dục mầm non; Công văn số:1424/SGDĐT-GDMN ngày 13/9/2021 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc về hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2021-2022 đối với giáo dục mầm non; Thông tư số 45/2021/TT-BGDĐT 6 ngày 31/12/2021 Quy định về việc xây dựng trường học an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non; Tạp chí Giáo dục mầm non 2010 “phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em ở Việt nam”; Tạp chí Y học thực hành của Tào Thị Hồng Vân 2012 “Thực trạng và đề xuất một số biện pháp phòng tránh nguy cơ mất an toàn cho trẻ trong trường mầm non”… 1. Các nghiên cứu quản lý hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non Từ các nghiên cứu về hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non cũng có những nghiên cứu quản lý hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non của các tác giả: Trần Thị Quỳnh-Trường Đại Học Thủ Đô Hà Nội 2020 đã nghiên cứu đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non huyện Kim Sơn -tỉnh Ninh Bình. Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền - trường ĐH Thái Nguyên 2016 với luận văn đề tài: Quản lý hoạt động phòng, tránh TNTT cho trẻ ở các trường mầm non huyện Ninh Giang - tỉnh Hải Dương [18]. Tác giả: Đinh Thị Bích Chi - trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh 2020 với đề tài Quản lý hoạt động phòng, tránh TNTT cho trẻ ở các trường mầm non Quận Tân Bình-Thành Phố Hồ Chí Minh [9].
Tác giả: Nguyễn Doanh Hoài 2020 với đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động xây dựng trường học an toàn, phòng, tránh TNTT ở các trường mầm non thị xã Phổ Yên-Tỉnh Thái Nguyên”. Các luận văn nghiên cứu của các tác giả trên đã nói lên vai trò và tầm quan trọng của hoạt động phòng, tránh TNTT cho trẻ trong trường mầm non. Hạn chế được tai nạn thương tích cho trẻ khi trẻ ở trường là một mục tiêu nhằm đổi mới nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ từ đó nâng cao chất lượng trong mỗi nhà trường. Mỗi đề tài nghiên cứu các tác giả cũng nêu rõ việc phòng, tránh tai nạn thương tích 7 cho trẻ trong trường mầm non muốn có hiệu quả thì người cán bộ quản lý và giáo viên phải đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, xử trí tai nạn thương tích cho trẻ khi ở trường mầm non.
Như vậy, qua các đề tài trên đã khẳng định vai trò của phòng, tránh TNTT cho trẻ trong trường mầm non và từ đó cho thấy ý nghĩa, tầm quan trọng của các biện pháp quản lý hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non. Qua đó các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với cấp quản lý Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục trong việc triển khai các công văn, kế hoạch cũng như biện pháp quản lý hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ tại trường mầm non huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” tùy thuộc vào phương pháp tiếp cận khác nhau nên cũng được các nhà khoa học, triết học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Sau đây là một số quan niệm về quản lý: H.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [37, tr.27] Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động, hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất”[23, tr.74] Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí định nghĩa thuật ngữ quản lý như sau: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.24] 8 Như vậy, quản lý là một yêu cầu tất yếu của một tổ chức. Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hoạt động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những định nghĩa trên, có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.
Đề tài sử dụng khái niệm này làm công cụ để nghiên cứu quản lý hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non. Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục. Theo tác giả BushT (trong tác phẩm Theories of Education Management PCP, London 1995): “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.
Trong quan điểm giáo dục hiện đại của tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người. Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục”.71] Từ những định nghĩa trên cho thấy: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục. 9 Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục vừa có những đặc điểm chung của quản lý vừa có những đặc điểm của riêng lĩnh vực giáo dục. Nhưng nét chung giữa quản lý và quản lý giáo dục - Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý.
- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược. - Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi). - Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật. - Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
Những điểm đặc thù của quản lý giáo dục so với hoạt động quản lý nói chung. - Quản lý giáo dục gắn liền với việc điều hành quá trình giáo dục đào tạo con người. Đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo. - Quản lý giáo dục được gắn liền với quyền lực nhà nước trong việc điều hành.
Điều chỉnh các hoạt động giáo dục, thông qua việc xây dựng, ban hành, chấp hành các văn bản như luật, điều lệ và các quy định, quy chế chuyên môn sư phạm. - Sản phẩm của giáo dục có tính đặc thù là hình thành và phát triển nhân cách cho người học. Nên quản lý giáo dục phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn những sai sót trong công việc tạo ra sản phẩm. Không được phép tạo ra “phế phẩm” trong giáo dục.
- Quản lý giáo dục gắn liền với phát triển quan điểm quần chúng, xã hội. - Quản lý giáo dục là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc. Hoạt động phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ tại các trường mầm non huyện Yên Lạc-tỉnh Vĩnh Phúc 1. Khái niệm phòng, tránh TNTT cho trẻ mầm non Theo hướng dẫn của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thì tai nạn thương tích được định nghĩa như sau: * Tai nạn: Là do tác nhân bên ngoài gây nên các tổn thương, thương 10 tích cho cơ thể về thể chất hay tinh thần.
Là sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn (ngẫu nhiên, không chủ ý). * Thương tích: hay còn gọi là “chấn thương” không phải là “tai nạn” mà là những sự kiện có thể dự đoán trước được và phần lớn có thể phòng tránh được, thương tích gây ra thiệt hại về thể chất và tinh thần cho một người nào đó.