Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số đặc điểm sinh học của chó 1. Nguồn gốc chó nhà Hiện nay ở nước ta, chó nhà có nhiều nguồn gốc khác nhau, đã được con người nuôi và thuần hóa sớm nhất cách đây khoảng 13.
Nguồn gốc của chó nhà hoàn toàn có thể được bắt nguồn từ cuối thời kỳ đồ đá cũ. Dấu tích sớm nhất được biết đến của chó nhà được khai thác ở Đức. Đây là dấu tích có lịch sử dân tộc 14. Sau đó là hộp sọ của hai con chó được tìm thấy ở miền tây nước Nga hoàn toàn có thể bắt nguồn từ 13.
Những dấu tích của chó nhà sớm nhất ở Trung Đông cũng có niên đại từ 12.000 năm trước, Đông Á là khoảng chừng 10.000 năm trước, và Bắc Mỹ là 8. Di tích của những con Dingo được khai thác ở Úc có niên đại cách đây 3.500 năm Nhóm tác giả (2003) cho biết, qua thuần dưỡng chọn lọc, lai tạo liên tục, người ta đã tạo ra hơn 400 loài chó khác nhau. Từ giống chó chăn cừu ở Châu Âu có tầm vóc lớn khoảng 50 - 60 kg/con trưởng thành đến giống chó xù mini chỉ nặng có 200 - 300g/con trưởng thành. Một số đặc điểm sinh học của chó Chó nội, chó cỏ hay còn gọi là chó ta, (để phân biệt với các giống chó ngoại) chó mực, chó vện hay còn được gọi chung là chó Việt Nam là các giống chó thuần chủng có nguồn gốc từ xa xưa tại Việt Nam.
Hiện ở Việt Nam có bốn giống chó nội có giá trị và được gọi là tứ đại quốc khuyển gồm: Chó Bắc Hà, chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học: Canis lupus dingo), H’mông cộc đuôi và chó Phú Quốc. 5 Chó Việt Nam hay còn gọi là chó ta có sức đề kháng rất cao chống chịu tốt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường, không đòi hỏi cao về chế độ chăm sóc và dinh dưỡng “dễ nuôi”. Độ tuổi thành thục ở mỗi giống khác nhau thì khác nhau nhưng có sự trênh lệc không đáng kể, đối với chó nội đực khoảng 15 - 18 tháng tuổi, chó cái là 12 - 14 tháng tuổi. Thời gian mang thai của chó cái là 60 ± 2 ngày rồi đẻ.
Sự hoạt động rụng trứng của chó cái có chu kỳ 180 ngày, tức là 2 lần/năm. Chó nội khỏe mạnh trưởng thành có các chỉ tiêu sinh lý như sau: - Thân nhiệt: 38 - 38,50C. - Nhịp tim: 70 nhịp/phút. - Nhịp thở: 50 - 60 nhịp/phút.
- Hồng cầu: 5 - 6 triệu/ mm3 máu. - Bạch cầu: 7000 - 9000/ mm3 máu. Ve Rhipicephalus sanguineus ký sinh ở chó Dantas-Torres F. (2015) cho biết : Rhipicephalus sanguineus là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806 dựa trên mẫu vật thu thập được từ Pháp.
Vị trí của ve R. sanguineus trong hệ thống phân loại động vật học Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963), Phan Trọng Cung (1977), Phan Trọng Cung và cs. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), vị trí của ve R. sanguineus trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Athropoda Siebold, 1848.
Lớp Arachnida Lamarck, 1801. Phân lớp Acari, Leach, 1817. Bộ Parasitiformes Leach, 1815. Họ Ixodidae Koch C.
Phân họ Ixodoidea Leach, 1815. Giống Rhipicephalus Latreille, 1806. Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806. 6 Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, ve R.
sanguineus là loài thường gặp, phổ biến và ký sinh nhiều nhất trên chó. Nguyễn Thị Kim Lan (1999), cho biết: ve là trung gian truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não, bệnh sốt phát ban ở người, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn…. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve R. Hình thể bên ngoài của ve.
sanguineus là động vật tiết túc cơ thể có hình quả lê. Con đực màu nâu đen, có kích thước khoảng 3,5 x 1,5 mm. Con cái có màu nâu xẫm, vàng hay xám bẩn, to hơn con đực có kích thước khoảng 11 x 7 mm. Ve có cơ thể phân đốt nhưng không rõ rệt, cơ thể được chia thành hai phần chính: đầu giả (Capililum) và thân (Idiosoma).
* Đầu giả (Capililum) Đầu giả gồm 2 phần chính: gốc đầu (Basiscapituli) và vòi (Gnathosoma) - Gốc đầu: là một bao kitin, nơi gắn những cơ vận động xúc biện và các phụ miệng. Gốc đầu có hình sáu cạnh, ở hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài. Trên lưng gốc đầu ve cái có đôi hõm đầu - cơ quan cảm giác có liên hệ với ống sản trứng. - Vòi: gồm một đôi kìm (Chelicera), tấm dưới miệng (Hypostoma) có nhiều hàng gai nhọn có tác dụng như răng hướng về phía sau và một đôi xúc biện.
7 + Xúc biện không dài và không lồi cạnh, cấu tạo bốn đốt là khác nhau, đánh số từ I đến IV bắt đầu từ đốt gốc, ba đốt nhìn rõ mặt lưng, đốt IV nằm ở mặt bụng của đốt III. Xúc biện là cơ quan cảm giác giúp ve phát hiện ra những nơi da mỏng, nơi có mạch máu. + Đôi kìm: nằm giữa hai xúc biện được bao bọc bởi bao kìm. Đôi kìm này có tác dụng rạch da vật chủ.
+ Tấm dưới miệng: là một tấm lẻ, hình thoi gắn vào gốc vòi giữa hai xúc biện, trên đó phủ kín những gai nhọn hướng về sau. Gai nhọn trên tấm dưới miệng thường phân bố theo hàng dọc. Tấm dưới miệng nhờ các gai nhon có tác dụng móc vào da vật chủ. Phía cuối của tấm này nhọn, sắc, cũng tham gia dùi vào da vật chủ.
* Thân (Idiosoma) Thân gồm có mặt hai mặt: lưng và bụng. - Mặt lưng: có mai lưng được câu tạo bằng kitin cứng rắn nên khi hút máu vật chủ, mai này không thay đổi, chỉ có những phần da mềm phình rộng ra. Mai lưng của ve đực phủ toàn bộ diện tích lưng. Mai lưng của ấu trùng, thiếu trùng và ve cai chỉ phủ một phần ba phía trước lưng, miền lưng chiếm diện tích phần còn lại.
Trên mai lưng có rãnh giữa sau, rãnh cạnh, rãnh cổ, mắt và mấu đuôi. Ve cái có mai lưng hình bầu dục dài hơn rộng. + Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai. Mắt có cấu tạo đơn giản.
+ Hai rãnh cổ chạy song song với trục giữa, bắt đầu từ hai hõm bờ trước xuống phía sau. + Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ. + Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân. + Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu).
+ Rua (feston) : là những ô viền ở bờ sau thân. - Mặt bụng gồm có : 8 Ở ve trưởng thành có lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước mặt bụng. Ve cái thường có hình bầu dục, ve đực thường có hình móng ngựa. Lỗ hậu môn nằm ở 1/3 phía sau thân.
Lỗ này có những tấm van trên bề mặt có nhiều tơ gọi là tơ hậu môn. Rãnh sinh dục vòng trước lỗ sinh dục xuống phía đuôi đến tận cùng rua III và rua IV và thường có hình parabol. sanguineus có rãnh hậu môn vòng quanh lỗ hậu môn. Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân.
Tấm thở là tấm kitin hẹp, dày, có hình dấu phẩy, nằm hai bên hông, sau gốc háng IV. Trên tấm thở có các lỗ thở. Tấm thở ở ve đực thường dài, ở ve cái thường ngắn. Tấm bụng còn gọi là tấm cạnh hậu môn là tấm hóa kitin.
Chân : Thiếu trùng và ve trưởng thành có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV, từ trước ra sau, còn ấu trùng thỉ chỉ có ba đôi chân. Mỗi đôi chân gồm có sáu đốt : háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân. Chân bám chặt vào lông của vật chủ nhờ cựa (gai chân). Có cơ quan cảm giác Haller ở phía cuối mặt lưng bàn chân I với nhiều chức năng khác nhau : Thăng bằng, định hướng thăng bằng và thính giác.
Ấu trùng Thiếu trùng R. Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus Ký sinh trên chó (Barbieri A., 2014 ) 9 Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ sinh dục (Phan Lục, 2006). Vòng đời phát triển của ve R. sanguineus Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999), (2012), ve R.
sanguineus có vòng đời phát triển như sau : ve cái và ve đực ký sinh ở ký chủ và giao phối, chúng rời khỏi vật chủ xuống đất sau khi hút no máu. Trên mặt đất ve cái đẻ trứng thành ổ, ổ trứng có màng nhầy bảo vệ. Trứng của ve nhỏ, màu vàng nâu hay nâu sẫm và có hình cầu. Sau một thời gian khoảng 17-25 ngày trứng nở ra ấu trùng, Ấu trùng bò lên cây cỏ, ẩn dưới lá cây.
Khi ký chủ tiếp súc với lá cây, ấu trùng bám vào ký chủ rồi hút no máu và biến thái ngay trên ký chủ đó hoặc rời khỏi ký chủ xuống đất biến thái thành thiếu trùng. Thiếu trùng vào ký chủ mới, lại hút no máu và phát triển thành ve trưởng thành tiếp tục chu kỳ trên. Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), cho biết : vòng đời phát triển của ve R. sanguineus trải qua ba giai đoạn : giai đoạn ấu trùng, giai đoạn thiếu trùng và giai đoạn ve trưởng thành.
Đây là loài ve 3 ký chủ, mỗi giai đoạn phát triển của ve R. sanguineus sau khi hút no máu đều rơi xuống đất, biến thái rồi lại bám vào ký chủ mới. - Ấu trùng : Ve cái và ve đực ký sinh ở vật chủ, giao cấu, sau khi hút máu no rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ. Sau một thời gian trứng nở thành ấu trùng.
Theo Lê Quốc Thái (1981), Trịnh Văn Thịnh và cs. sanguineus có thời gian ủ trứng 17 - 25 ngày trong điều kiện 210C - 350C, độ ẩm là 60 - 90%. Sau khoảng thời gian này trứng nở ra ấu trùng. Sau khi trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cây cỏ giúp chúng tránh gió và ánh sáng mặt trời và thuận lợi tiếp xúc với vật chủ.
Ấu trùng có thể nhịn đói lên đến trên 8 tháng rưỡi. ấu trùng sẽ đi tìm nơi ký sinh thích hợp và thực hiện quá trình hút máu sau khi bám được vào vật chủ. Thời gian bám và hút máu no gọi là bữa ăn. Thời gian này ở ấu trùng R.
sanguineus là 2 - 6 ngày. 10 Theo Phan Trọng Cung và cs. (1977), Phan Trọng Cung và Lê Quốc Thái (1979), sau khi no máu, ấu trùng rời vật chủ xuống dưới đất rồi mới lột xác thành thiếu trùng. Thời gian lột xác của ấu trùng R.
sanguineus là 6 - 12 ngày ở điều kiện nhiệt độ 21 - 330C, độ ẩm 60 - 90%.