MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ở nước ta, trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi nước ta đã không ngừng phát triển với tốc độ cao, đạt 7 - 8 %/năm. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê, tổng đàn gia cầm tại thời điểm 01/4/2013 là 314,4 triệu con, tăng 1,2% so với năm 2012. Ở Việt Nam thịt gà chiếm tỷ lệ 50% tổng số thịt tiêu thụ bình quân đầu người trên năm, ngoài ra thịt gà còn là một trong những thực phẩm xuất khẩu ra thế giới.
Với mục tiêu đến năm 2020, thu nhập bình quân đầu người đạt 36 triệu/năm, tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản chiếm 41,0%, huyện Lục Ngạn đã coi chăn nuôi là một trong tám chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó chăn nuôi gia cầm trên địa bàn huyện ngày càng được chú trọng với các giống gà địa phương là nguồn gen rất quý trong việc thực hiện các công thức lai kinh tế có hiệu quả cao trong thời gian trước mắt, đồng thời chuẩn bị nguyên liệu di truyền cho việc tạo ra các giống gia cầm mang thương hiệu Việt Nam trong tương lai. Cùng với việc tăng tổng số lượng đàn gia cầm, ngành chăn nuôi gia cầm của huyện đang từng bước hiện đại hóa công nghệ chăn nuôi và chế biến sản phẩm để sớm trở thành một trong những nghề có tốc độ phát triển nhanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện nay với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, thức ăn gia súc, gia cầm, các nhà sản xuất đã tạo ra những loại thức ăn có chất lượng ngày càng cao.
Cùng với những thuận lợi có được hiện nay về các giống gia cầm cao sản, tiêu tốn thức ăn thấp, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong ngành chăn nuôi. Tất cả những ưu thế trên sẽ là tiềm lực để ngành phát triển mạnh mẽ trong tương lai, nhưng bên cạnh đó ngành chăn nuôi còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khác như: giá sản phẩm, đầu ra và đặc biệt là dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Trong đó dịch bệnh luôn là mối nguy hiểm gây tổn thất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gà nói riêng. 2 Là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thảm thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, thích hợp cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh.
Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng. Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém các bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà. Bệnh thường xuất hiện không chỉ ở các trang trại chăn nuôi tập trung với quy mô lớn mà còn diễn ra trong các nông hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ với mức độ nghiêm trọng gây tổn thất về kinh tế, môi trường và gây hoang mang cho người chăn nuôi. Để góp phần làm rõ hơn về căn bệnh này cũng như xác định các đặc điểm dịch tễ của bệnh và tìm ra phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, tiến tới phổ biến kiến thức tới người chăn nuôi giúp người chăn nuôi có thể chủ động hơn trong việc phòng và điều trị bệnh.
Hạn chế tối đa thiệt hại của bệnh gây ra cho đàn gà nuôi tại huyện Lục Ngạn nói riêng và các khu vực chăn nuôi gà trong nước nói chung, em tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và sử dụng thuốc điều trị”. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ do Histomonas meleagridis gây ra trên đàn gà nuôi tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. - Xây dựng phác đồ điều trị bệnh hiệu quả nhất. Mục đích nghiên cứu Nắm bắt và làm sáng tỏ được đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên đàn gà.
Dùng một số phác đồ điều trị bệnh để thử hiệu quả, độ an toàn của thuốc từ đó có cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng bệnh hiệu quả và đưa ra phác đồ trị bệnh hiệu quả nhất. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ và thuốc điều trị bệnh đầu đen ở gà. * Ý nghĩa thực tiễn. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển.
4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh của các loài gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Bệnh do một loại ký sinh trùng đơn bào có tên khoa học là Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh do Histomonas meleagridis ký sinh ở gan, dạ dày và ruột thừa (manh tràng) của gà gây hoại tử, xuất huyết niêm mạc manh tràng, rối loạn chức năng gan và chết với tỷ lệ cao.
Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 2. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống động vật nguyên sinh Trong mô tả đầu tiên của Smith (1895) [31], H. meleagridis được biết đến là amip. Tuy nhiên, những năm sau đó việc phân loại Histomonas meleagridis đã liên tục thay đổi.
Gần đây, căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs (2010) [14] đã cho biết vị trí phân loại của H. meleagridis như sau: Bảng phân loại Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis 2. Hình thái học loài Histomonas meleagridis Histomonas meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: Hình thái của chúng biến đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển và chủ yếu chúng tồn tại ở hai dạng chính là dạng hình cầu, hình trứng hay dạng gần tròn bên trong có nhân dạng gần giống như những bọc nước, ở phần ngoài có từ 1 - 4 roi kích 5 thước biến đổi từ 5 - 20 µm, (Phạm Sĩ Lăng và cs 2006 [4]). Cụ thể hình dạng của Histomonas meleagridis biến đổi theo các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Khi Histomonas meleagridis tồn tại ở dạng tiềm tàng, ít hoạt động, trong trứng của giun kim (Heterakis) thì Histomonas meleagridis có hình cầu hoặc hình trứng.
Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và chuyển sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì cơ thể của chúng bắt đầu chuyển dần từ dạng hình cầu sang dạng hình gần tròn có kích thước 8 - 17µm. Các đơn bào Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút ở đầu khi đó cơ thể của H.meliagridis chia làm hai phần đó là phần roi dài 6 - 11µm và phần nhân tế bào là một nhân có đường kính 1,7 - 2,2µm. Nhờ có roi hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào là máu gà nên số lượng Histomonas meleagridis được nhân lên nhanh chóng. Giai đoạn 3: Khi gà mắc bệnh ở giai đoạn cuối mất nhiều máu số lượng hồng cầu giảm dẫn tới dinh dưỡng của H.meliagridis bị thiếu nghiêm trọng làm chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu.
Tại đây chúng gây chết các tế bào xung quanh khu vực hay chúng sẽ tìm vật chủ ký sinh mới phù hợp có sẵn trong cơ thể gà là Giun kim (Heterakis gallirum) đồng thời một số Histomonas meleagridis bị cơ thể bài tiết ra ngoài theo phân. Vì vậy, để có thể thích hợp với những điều kiện mới này thì bắt buộc các đơn bào Histomonas meleagridis phải trải qua hình thức suy thái mới đó là chuyển từ dạng hoạt động sang dạng tồn tại tiềm ẩn hay cụ thể là từ dạng hình gần tròn có roi sang dạng hình cầu, hình trứng. Histomonas meleagridis có thể nuôi cấy nhân tạo ở môi trường, yếm khí. Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H.
meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, tế bào chất và nhân. meleagridis là một màng đơn. Tế bào chất H.
meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và RNA (Lee và cs, 1969), một số không bào và hạt nhân (Schuster, 1968). Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus. Màng nhân là một màng kép (Schuster, 1968; Lee và cs, 1969). Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule (Schuster, 1968).
6 Một số tác giả cho rằng H. meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể. Lưới nội chất đã bị thoái hóa. Vòng đời Histomonas meleagridis H.
meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân). meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: lây nhiễm trực tiếp và lây nhiễm gián tiếp qua giun kim. * Truyền bệnh trực tiếp Trong báo cáo ban đầu của Smith (1895) [31], sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí nghiệm cho gà khỏe uống H. Theo quan điểm của Smith và Moore (1986) cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị nhiễm bệnh.
Curtice (1907) [16] cũng làm các thí nghiệm gây nhiễm H. meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự. Tuy nhiên, các tác giả đều kết luận có thể gây nhiễm bệnh đầu đen ở gà và gà tây qua đường ăn, uống nhưng tỷ lệ nhiễm không cao. Năm 1922, Tyzzer và Fabyan lấy gan của gà bị bệnh nặng nghiền nhỏ cho gà và vịt được 4, 6, 16 ngày tuổi ăn.
Sau đó, ông tiếp tục gây nhiễm bệnh đầu đen trên một số gà 5 ngày tuổi bằng cách cho ăn gan nhiễm bệnh. Sau hàng loạt thí nghiệm, Tyzzer (1926) [33] đã kết luận rằng H. meleagridis có thể được truyền đến một mức độ nào đó trong tự nhiên bằng cách ăn, uống các cơ quan của gà bệnh có chứa mầm bệnh. (1960) [26] đã gây bệnh bằng đường miệng cho 109 gà ở 6 - 9 tuần tuổi, mỗi gà nuốt 10.
Kết quả chỉ có 1 gà tử vong trong số 2 gà bị mắc bệnh do gây nhiễm.