Tổng quan nghiên cứu

Đầm Thị Nại là thủy vực nước lợ ven biển có quy mô lớn thứ hai tại miền Trung Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên khoảng 5.060 ha, đóng vai trò xung yếu trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu và phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương. Khu vực đầm tiếp nhận nguồn nước ngọt trực tiếp từ lưu vực sông Kôn và sông Hà Thanh trước khi thông ra biển qua vịnh Quy Nhơn bằng một lạch sâu rộng khoảng 600 đến 800 m. Tuy nhiên, sức ép từ mật độ dân số đô thị ven đầm đạt 818 người/km² với tổng dân số 152.985 người, cùng hơn 3.120 ha diện tích mặt nước bị chuyển đổi sang mục đích nuôi trồng thủy sản đã tạo ra tải lượng ô nhiễm khổng lồ. Diện tích rừng ngập mặn suy giảm nghiêm trọng từ hơn 1.200 ha trong những năm 1990 xuống còn vỏn vẹn 185 ha vào năm 2016, làm suy yếu chức năng tự làm sạch tự nhiên của hệ sinh thái đầm phá.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi không gian 47 km² của đầm Thị Nại, giới hạn bởi đường bờ dài 50 km thuộc địa phận tỉnh Bình Định. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm sáng tỏ bản chất các quá trình địa hóa môi trường, xác định đặc điểm phân bố không gian và biến thiên theo thời gian của các hợp phần hóa lý, dinh dưỡng, anion và kim loại nặng trong môi trường nước tầng mặt và trầm tích đáy. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ dữ liệu khoa học có độ tin cậy cao, xác lập cơ sở thực tiễn cho việc phân vùng sinh thái, kiểm soát nguồn thải và định hướng chiến lược sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên đầm phá ven bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết địa hóa môi trường cảnh quan ven bờ kết hợp với lý thuyết thủy động lực học đầm phá cửa sông nhiệt đới. Quá trình di chuyển, chuyển hóa và lắng đọng của các nguyên tố hóa học được phân tích thông qua sự tương tác giữa pha lỏng (môi trường nước) và pha rắn (trầm tích đáy), chịu sự chi phối mạnh mẽ của chế độ thủy triều toàn nhật không đều (18 đến 22 ngày triều toàn nhật/tháng, biên độ triều trung bình 105 cm) và dòng chảy sông theo mùa.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  1. Hệ số biến phân hàm lượng (CV%) để đánh giá mức độ đồng đều và nguồn gốc phân tán của các chất ô nhiễm.
  2. Tải lượng dinh dưỡng và nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5, COD) phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ.
  3. Ranh giới sa lắng địa hóa (Geochemical barrier) tại vùng giao thoa nước mặn - ngọt.
  4. Quá trình tích lũy sinh học các hợp chất hữu cơ bền clo (OCPs) và Polychlorinated biphenyls (PCBs) trong chuỗi thức ăn thủy vực.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính đại diện toàn diện về mặt không gian và độ chính xác của các phân tích vi lượng, hệ phương pháp nghiên cứu được xây dựng đồng bộ theo các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế:

  • Cỡ mẫu và thiết kế chọn mẫu: Tổng cộng 35 vị trí lấy mẫu nước mặt và trầm tích tầng mặt được bố trí theo mạng lưới không gian phủ đều toàn bộ mặt đầm với khoảng cách trung bình 0,8 x 1,5 km (28 điểm diện rộng và 7 điểm bổ sung tại các khu vực nhạy cảm gồm cửa sông Kôn, cửa sông Hà Thanh, khu vực cảng Quy Nhơn và cảng cá Thị Nại). Bên cạnh đó, 6 vị trí trọng điểm được chọn để phân tích các chỉ tiêu sinh hóa (DO, COD, BOD5, Coliform) và 7 vị trí trầm tích ít biến động được lấy mẫu để định lượng các hợp chất OCPs và PCBs.
  • Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Các phương pháp phân tích quang phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa và kỹ thuật hydrua (AAS) theo TCVN 6193:1996 và TCVN 8467:2010 được lựa chọn nhờ giới hạn phát hiện ở nồng độ cực vết (ppb) và độ nhạy cao đối với các kim loại nặng như Cu, Pb, Zn, Cd, As, Hg, Mn. Phân tích các anion dinh dưỡng (NO3-, SO42-, PO43-) bằng phương pháp sắc ký lỏng ion theo tiêu chuẩn TCVN 6494-1:2011 giúp loại bỏ tối đa các yếu tố gây nhiễu trong môi trường nước lợ có độ muối cao (dao động từ 1,1‰ đến 33,2‰).
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được chuẩn hóa, tính toán các tham số thống kê mô tả (Cmin, Cmax, Ctb, CV%) bằng phần mềm chuyên dụng và số hóa bản đồ phân bố không gian bằng hệ thống thông tin địa lý MapInfo 15.0 trên nền bản đồ độ sâu địa hình từ 1 m đến 15 m.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực nghiệm từ 35 trạm quan trắc trên toàn bộ đầm Thị Nại đã chỉ ra những đặc điểm địa hóa môi trường nổi bật:

  • Ô nhiễm hữu cơ cục bộ ở mức cao: Chỉ số COD trong nước tầng mặt dao động từ 6,8 đến 8,59 mg/l, đạt giá trị trung bình 7,53 mg/l (tại 6 điểm phân tích chuyên sâu đạt 7,84 mg/l), vượt quy chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT từ 2,27 đến 2,83 lần. Chỉ số oxy hòa tan DO dao động từ 4,3 đến 7,3 mg/l (trung bình 6,3 mg/l), trong đó khu vực cảng Thị Nại ghi nhận giá trị DO tụt xuống dưới 4,5 mg/l do lượng chất thải hữu cơ từ quá trình sơ chế thủy sản xả trực tiếp ra đầm.
  • Sự phân hóa rõ rệt của tổng chất rắn lơ lửng và độ muối: Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) có biên độ dao động cực lớn từ 1,2 đến 75,1 mg/l (trung bình 17,8 mg/l, độ biến thiên CV = 119,12%). Khu vực cửa sông Kôn ghi nhận hàm lượng TSS vượt ngưỡng quy chuẩn 50 mg/l, dao động từ 55,2 đến 75,1 mg/l. Độ muối phân tầng mạnh theo hướng giảm dần từ cửa đầm (33,2‰) về phía đỉnh đầm (1,1‰), trung bình đạt 16,66‰ với hệ số biến thiên CV = 51,75%.
  • Tích tụ dinh dưỡng và anion hòa tan: Hàm lượng ion NO3- trong nước dao động từ 0,64 đến 1,60 mg/l (trung bình 1,24 mg/l), có xu hướng tăng cao tại khu vực đỉnh đầm do ảnh hưởng của phân bón nông nghiệp. Ion SO42- dao động từ 68 đến 2.488 mg/l (trung bình 1.294 mg/l), đạt cực đại tại khu vực cửa đầm chịu ảnh hưởng mặn từ biển ngoài.
  • Nồng độ các kim loại nặng vi lượng: Hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt duy trì ở mức thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 10-MT:2015/BTNMT: Mangan (Mn) trung bình 0,0074 mg/l; Đồng (Cu) trung bình 0,015 mg/l; Chì (Pb) trung bình 0,00148 mg/l; Kẽm (Zn) trung bình 0,010 mg/l; Cadimi (Cd) trung bình 0,00022 mg/l; Asen (As) trung bình 0,0042 mg/l; Thủy ngân (Hg) trung bình 0,000061 mg/l. Mặc dù đạt chuẩn quốc gia, nồng độ Asen và Đồng vẫn cao hơn từ 1,4 đến 5 lần so với mức nền trung bình trong nước biển nông thế giới theo số liệu World Ocean Atlas (As nền: 0,003 mg/l; Cu nền: 0,003 mg/l).

Thảo luận kết quả

Các kết quả thực nghiệm có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua đồ thị gradient không gian dọc theo mặt cắt kéo dài từ đỉnh đầm (Vùng A) qua giữa đầm (Vùng B) tới cửa đầm (Vùng C), kết hợp bảng đối sánh tương quan giữa độ muối, pH và tốc độ sa lắng kim loại nặng. Đồ thị cho thấy các nguyên tố như As, Pb, Cu có xu hướng giảm dần nồng độ trong pha lỏng khi đi từ đỉnh đầm ra cửa đầm. Nguyên nhân chính là do khi gặp môi trường kiềm yếu (pH tăng từ 6,5 tại cửa sông lên 8,4 tại cửa đầm) cùng độ mặn tăng cao, các hạt keo phù sa mang kim loại nặng bị kết tụ và lắng đọng xuống trầm tích đáy.

Sự suy giảm oxy hòa tan và gia tăng chỉ số COD phản ánh sức ép trực tiếp từ hơn 1.455 ha ao nuôi tôm thâm canh và quảng canh cải tiến, nơi lượng thức ăn dư thừa và chất thải của tôm không qua xử lý lắng đọng xuống đáy đầm. So sánh với các nghiên cứu tại vịnh Xiamen (Trung Quốc) hay vịnh Manila (Philippines), đầm Thị Nại có mức độ ô nhiễm kim loại nặng tự do trong nước thấp hơn, nhưng tốc độ tích tụ hữu cơ tại các bãi triều Cồn Chim và cửa sông Hà Thanh diễn ra nhanh hơn do hình thái vụng bán khép kín và lưu lượng dòng chảy sông bị sụt giảm trong mùa khô (chiếm chưa đầy 10% lượng mưa cả năm).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi chất lượng môi trường và khai thác bền vững tài nguyên sinh thái đầm Thị Nại, các giải pháp mang tính chiến lược cần được triển khai đồng bộ:

  • Phục hồi và mở rộng 220 ha rừng ngập mặn cùng 50 ha thảm cỏ biển: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định chủ trì phối hợp với Ban Quản lý Khu sinh thái Cồn Chim triển khai dự án trồng mới 60 ha rừng ngập mặn giai đoạn 2024–2026, hướng tới nâng tổng diện tích đai rừng phòng hộ lên trên 220 ha vào năm 2028 nhằm tăng cường dung lượng tự làm sạch tự nhiên của đầm.
  • Kiểm soát và nâng cấp 100% hệ thống xử lý nước thải đô thị, công nghiệp: Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Nhơn Hội đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải tập trung, bảo đảm xử lý đạt chuẩn cột A trước khi xả thải, mục tiêu kéo giảm nồng độ COD trong nước đầm xuống dưới 4,0 mg/l trong giai đoạn 2024–2027.
  • Quy hoạch và tái cấu trúc 3.120 ha diện tích nuôi trồng thủy sản: Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Định tiến hành chuyển đổi tối thiểu 40% diện tích ao nuôi tôm thâm canh sang mô hình nuôi sinh thái kết hợp tuần hoàn nước kín (RAS hoặc Biofloc) đến năm 2027, cấm tuyệt đối việc quai đê tự phát phá hủy rạn rừng ngập mặn ven đầm.
  • Xây dựng mạng lưới quan trắc tự động với 12 trạm giám sát địa hóa môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định lắp đặt và vận hành hệ thống quan trắc online các thông số pH, DO, TSS, độ mặn và kim loại nặng tại các cửa sông Kôn, sông Hà Thanh và cảng cá Quy Nhơn, hoàn thành đưa vào vận hành trước quý 2 năm 2025 để đưa ra cảnh báo sớm về nguy cơ bùng phát dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm chuyên môn:

  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý môi trường (Sở TN&MT, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định): Khai thác dữ liệu phân vùng địa hóa để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, phân bổ hạn ngạch xả thải và ban hành các quy chế bảo vệ nguồn nước đầm Thị Nại.
  • Các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Địa chất biển: Tiếp cận tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp lấy mẫu lưới không gian, kỹ thuật phân tích trắc quang, sắc ký ion và đánh giá tương tác địa hóa nước - trầm tích đầm phá nhiệt đới.
  • Doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản và hiệp hội nghề cá địa phương: Sử dụng các bản đồ phân bố độ mặn, TSS và chất lượng dinh dưỡng để tối ưu hóa lịch lấy nước cấp, lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp và nâng cao hiệu quả phòng ngừa dịch bệnh cho thủy sản.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên: Ứng dụng mô hình sinh thái Cồn Chim để xây dựng các đề án bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái cỏ biển và phát triển các tour du lịch sinh thái cộng đồng bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Đầm Thị Nại có vai trò sinh thái và kinh tế quan trọng như thế nào tại khu vực duyên hải miền Trung? Đầm Thị Nại có diện tích 5.060 ha, là đầm phá lớn thứ nhì Việt Nam, đóng vai trò điều hòa lũ cho lưu vực sông Kôn và bảo vệ thành phố Quy Nhơn trước bão biển. Nơi đây sở hữu khu phục hồi Cồn Chim rộng hơn 480 ha với 25 loài cây ngập mặn, 76 loài cá và cung cấp sản lượng khai thác thủy sản hàng năm trên 822 tấn tôm và 112 tấn cá.

Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước mặt đầm Thị Nại đang diễn ra ở mức độ nào? Môi trường nước mặt đang chịu ô nhiễm hữu cơ đáng kể với nồng độ COD trung bình đạt 7,53 mg/l, vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10-MT:2015 từ 2,27 đến 2,83 lần. Khu vực cửa sông Kôn bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng nghiêm trọng với TSS đạt 75,1 mg/l, vượt ngưỡng cho phép 50 mg/l do bùn cát và nước thải sinh hoạt thượng nguồn đổ về.

Hàm lượng các kim loại nặng trong nước đầm Thị Nại có gây độc hại cho thủy sinh vật không? Hàm lượng các kim loại nặng gồm Mn (0,0074 mg/l), Cu (0,015 mg/l), Pb (0,00148 mg/l), Zn (0,010 mg/l), Cd (0,00022 mg/l), As (0,0042 mg/l) và Hg (0,000061 mg/l) đều nằm trong giới hạn an toàn của QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Tuy nhiên, hàm lượng As và Cu cao hơn mức nền nước biển thế giới, cảnh báo nguy cơ tích tụ lâu dài trong trầm tích và chuỗi thức ăn.

Tại sao độ muối trong nước đầm Thị Nại lại có sự biến thiên không gian phức tạp? Độ muối biến thiên từ 1,1‰ ở đỉnh đầm lên 33,2‰ ở cửa đầm (trung bình 16,66‰) với hệ số biến phân cao CV = 51,75%. Sự phân hóa này bắt nguồn từ sự tranh chấp động lực giữa dòng chảy nước ngọt mùa mưa từ sông Kôn, sông Hà Thanh và chế độ dòng triều mặn truyền từ vịnh Quy Nhơn qua lạch sâu 800 m.

Phương pháp xử lý mẫu nào đã được áp dụng để xác định kim loại nặng trong môi trường nước và trầm tích? Nghiên cứu sử dụng phương pháp phá mẫu bằng dung dịch nước cường thủy kết hợp đo phổ hấp thụ nguyên tử AAS (TCVN 6193:1996, TCVN 6496:2009) và kỹ thuật tạo hydrua cho As, Sb (TCVN 8467:2010), hơi lạnh cho Hg (TCVN 8882:2011). Quy trình bảo đảm độ nhạy cao, xác định chính xác các nồng độ vi lượng dạng vết trong mẫu nước và trầm tích.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện đặc điểm địa hóa môi trường nước và trầm tích đầm Thị Nại thông qua mạng lưới 35 trạm khảo sát thực địa trên diện tích 47 km² vùng nghiên cứu.
  • Xác định hiện trạng chất lượng nước đầm Thị Nại chịu ô nhiễm hữu cơ cục bộ với chỉ số COD vượt quy chuẩn quốc gia từ 2,27 đến 2,83 lần và nồng độ chất rắn lơ lửng TSS tại cửa sông Kôn đạt đỉnh 75,1 mg/l.
  • Khẳng định nồng độ các kim loại nặng trong nước (As, Cd, Pb, Hg, Cu, Zn, Mn) hiện vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT, tuy nhiên đã xuất hiện sự tích tụ cục bộ trong trầm tích tại khu vực Cồn Chim và các cảng biển.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu khoa học liên ngành (địa hóa, thủy văn, sinh thái) có giá trị cao, phục vụ công tác quy hoạch phân vùng chức năng và kiểm soát ô nhiễm môi trường đầm phá.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể với mục tiêu phục hồi 220 ha rừng ngập mặn và triển khai trạm quan trắc tự động giai đoạn 2024–2028.

Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp địa phương hãy chủ động ứng dụng kết quả của công trình nghiên cứu này để xây dựng các phương án hành động cụ thể, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển Bình Định.