Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu đối với hầu hết các nhóm côn trùng gặp nhiều khó khăn, một phần do chúng có kích thước nhỏ bé, sống trong không gian hạn hẹp và có cuộc sống ngắn ngủi. Tuy nhiên các loài bướm ngày, đặc biệt là pha trưởng thành lại có sự hiện diện khá đặc trưng, dễ quan sát thấy do sự bay lượn của chúng. Chúng có sự lựa chọn sinh cảnh riêng nên bướm ngày thường được coi là sinh vật chỉ thị quan trọng đối với đa dạng sinh học. Vì vậy, bướm là đối tượng thích hợp để nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu bướm trên thế giới Bướm thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), là nhóm côn trùng được rất nhiều người quan tâm. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có các công trình nghiên cứu về bướm, đặc biệt là các nước như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Australia. Các công trình nghiên cứu bướm không chỉ giới hạn về thành phần loài mà còn tập trung nhiều vào vấn đề sinh thái, sinh học và bảo tồn. Nghiên cứu mối quan hệ giữa bướm và môi trường là một trong những lĩnh vực được các nhà sinh thái và sinh học quan tâm nhiều.
Ngày nay môi trường sống của các loài sinh vật nói chung, bướm và côn trùng nói riêng đang bị tàn phá hơn bao giờ hết. Nguyên nhân môi trường sống của sinh vật bị tàn phá là do rừng bị thu hẹp bởi việc chặt phá rừng, khai thác gỗ, và nhiều hoạt động khác. Côn trùng là những loài vật có trọng lượng cơ thể nhỏ nhưng sinh khối của chúng rất lớn. Chúng là nguồn thức ăn dồi dào để duy trì và nuôi sống rất nhiều loài động vật khác như chim, lưỡng cư, bò sát, nhện, và các loại côn trùng ăn thịt.
So với các nhóm côn trùng khác, bướm là nhóm được nghiên cứu nhiều nhất do chúng có kích thước cơ thể tương đối lớn và dễ định loại so với các 4 loài côn trùng khác nhất là ngài đêm (cùng nhóm cánh vẩy), gần gũi với con người và nhạy cảm với mọi thay đổi về môi trường sống. Bướm là nhóm động vật đa dạng và phong phú bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn. Bướm gần gũi với con người và được ưa chuộng vì có giá trị về văn hoá. Nhu cầu thế giới về việc sử dụng bướm cho mục đích khoa học cũng như các mục đích khác là rất lớn.
Mỗi năm hàng triệu mẫu bướm được thu thập và buôn bán trên phạm vi toàn thế giới. Bướm dùng để trang trí, làm quà lưu niệm, làm bộ sưu tập ở nhiều nơi trên thế giới nhất là Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Ngoài ra bướm và một số côn trùng khác nhập khẩu từ các nước nhiệt đới được sử dụng để thả vào vườn thú, công viên phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí và giáo dục. Từ những nhu cầu đó đã tạo ra một thị trường rất lớn về bướm.
Hàng năm thu nhập từ việc buôn bán bướm chiếm trên 100 triệu Đô la Mỹ (Parsons, 1996). Con số này còn lớn hơn nhiều trong những năm gần đây. Có nhiều nước đã rất thành công trong việc nuôi bướm xuất khẩu như: Papua New Guinea, Thái Lan, Đài Loan, Costa Rica, Mỹ. Ví dụ ở Đài Loan hàng năm có khoảng 15 đến 500 triệu con bướm được bán ra thị trường thông qua các công ty nuôi và buôn bán côn trùng.
Một công ty nổi tiếng ở Mỹ một năm bán ra thị trường trên 50 triệu con bướm. Qua 105 tháng nghiên cứu suốt 49 năm, Finn và Colin (2003) đã xem xét lại tình trạng của 915 loài và 910 loài phụ Bướm đã được ghi nhận ở Philippines. Các tác giả đã xác định được 133 loài bị đe dọa ở mức độ toàn cầu và các taxon đặc hữu ở Philippines. Hiện tại, hệ thống gồm 18 khu bảo tồn được ưu tiên của đất nước này ít nhất đã có 1 khu dành cho việc bảo tồn 65 loài, tuy nhiên số còn lại là 29 loài và 39 loài phụ vẫn chưa có một khu bảo tồn nào quan tâm tới.
Theo New & Collins(1991), nhiều loài bướm Phượng có phân bố hẹp, sâu non của rất nhiều loài phụ thuộc vào một hoặc một số loài thực vật nhất định, 5 một số loài lại chỉ giới hạn nơi sống và vùng hoạt động trên núi ở độ cao nhất định. Sự phá huỷ rừng đã làm cho quần thể của nhiều loài bướm bị giảm sút nghiêm trọng ở Ấn Độ, Nê Pan, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Gia-mai-ca và Bra- xin (New et Collins, 1991). Nghiên cứu của Warren (1985) đã chỉ ra rằng, những khu rừng có tán rậm thường ít các loài bướm phân bố hơn những khu rừng thưa. Sự đa dạng của các loài bướm tăng lên với sự tăng thêm về quy mô sinh cảnh và sự đa dạng của thực vật (Price, 1975), hầu hết trong số chúng phụ thuộc vào sự khép tán của rừng (Collins & Morris, 1985; Sutton & Collins, 1991).
Bướm ngày tồn tại trong những sinh cảnh rất cụ thể, và sinh cảnh này bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố phi sinh vật và sinh vật (Ramos, 2000; Spitzer et al. Sinh cảnh bị tác động cũng ảnh hưởng rất lớn đến thành phần và số lượng quần thể các loài Bướm. Sự đa dạng loài và sự phong phú của các loài trong quần xã bướm cao nhất ở nơi rừng bị tác động vừa phải và giảm rất mạnh ở khu vực rừng bị đô thị hoá, đặc biệt các loài đặc hữu bị biến mất khi sinh cảnh của chúng bị đô thị hoá (Blair & Launer, 1997; Brown, 1996). Nghiên cứu của Schulze et al.
(2004a, b) cho thấy, sinh cảnh rừng thứ sinh có sự đa dạng quần xã Bướm cao hơn rất nhiều so với ở khu đất canh tác nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, ở những sinh cảnh rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh có thảm thực vật gần giống nhau thì sự khác biệt về thành phần loài Bướm là không đáng kể. Các loài Bướm có phạm vi phân bố rộng thường được bắt gặp ở những khu vực rừng thấp, thường bị tác động của con người. Trong khi đó, các loài Bướm đặc hữu thường giới hạn ở các sinh cảnh rừng trên đai cao lớn hơn 500m (Lewis et al.
Ngoài biến động theo sinh cảnh và độ cao, các loài Bướm còn là nhóm 6 động vật dễ bị tác động bởi những thay đổi của thời tiết. Sự phong phú của các loài Bướm thường tăng lên trong những ngày có thời tiết ấm áp(Roy et al. Thời tiết thuận lợi làm tăng số lượng cá thể của các loài bướm trong những năm sau (Brunzel & Elligsen, 1999). Theo nghiên cứu của Pollard (1988) ở Anh, vào những năm mùa hè ấm áp và khô ráo, quần thể của các loài bướm tăng, trong khi Janzen & Schoener (1968) lại nhận thấy, vào mùa khô ở rừng nhiệt đới, khu vực ẩm có sự phong phú cũng như đa dạng côn trùng cao hơn so với khu vực khô.
Do vậy việc nhân nuôi các loài bướm, nhất là các loài bướm quý hiếm là việc cần làm nhằm bảo tồn các loài quý hiếm và tạo thu nhập cho người dân trong vùng thông qua việc xuất khẩu bướm cũng như các loại côn trùng có giá trị thương mại khác. Tình hình nghiên cứu bướm ở Việt Nam Danh sách đầu tiên về bướm của Đông Dương được công bố vào đầu thế kỷ 20. Danh sách khu hệ bướm của Việt Nam được công bố vào năm 1957 (Metaye 1957), trong danh sách này có 454 loài. Sau đó rải rác có một số công trình nghiên cứu về bướm và danh lục bướm tiếp tục được bổ sung.
Đặc biệt trong những năm gần đây có nhiều công trình khảo sát về bướm do Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga tiến hành tại các khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia của Việt Nam như: Vườn Quốc gia Ba Bể (năm 1996 - 1997), Ba Vì (1996), Hoàng Liên (năm 1998 - 2000), Phong Nha - Kẻ Bàng (1999), Tam Đảo (2000 - 2001), Cúc Phương (1998), Hòn Bà (2003). Đề tài “Nghiên cứu thành phần các loài bướm ngày (Rhopalocera) của rừng Việt Nam làm cơ sở đề xuất biện pháp quản lý sử dụng” của Viện điều tra quy hoạch rừng - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Đặng Ngọc Anh, 1998 - 2000) đã thống kê được nhiều loài cánh vẩy hoạt động ban ngày. Nhiều loài mới cho khoa học cũng như mới cho Việt Nam được phát hiện trong những năm gần đây. 7 Theo kết quả thu được từ các đề tài đã nói ở trên, Việt Nam có khoảng trên 1000 loài bướm.
Theo khảo sát của các tác giả Monastyrskyii, Đỗ Anh Tuấn và Phạm Minh Hưng năm 2005, khu hệ bướm tại sinh cảnh vùng núi thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế có sự đa dạng rất cao. Các tác giả đã ghi nhận được 402 loài, đặc biệt có một số loài mới được phát hiện có phân bố ở trong tỉnh, bao gồm: Họ Amathusiidae có 2 loài là Zeuxidia sapphires Monastyrskii & Devyatkin, Stichophthalma louisa eamesi Monastiskii, Devyatkin & Uemura; Họ Hesperiidae có 6 loài là Pintara capiloides Devyatkin (1998), Thoressa monastyrskii annamita Devyatkin (1999), Darpa inopinata, Devyatkin (2001), Tagiades hybridus, Devyatkin (2001), Geosis tristis gaudialis, Devyatkin (2001), Capila lineate magna, Devyatkin & Monastyskii (1999). Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã ghi nhận có 3 loài lần đầu tiên được phát hiện ở tỉnh Thừa Thiên Huế, đây là các loài trước đây đã được mô tả từ các mẫu vật thu được ở nơi khác, bao gồm: Họ Satyridae có loài Elymnias saola Monastyrskii, 2004 (Pù Mát, Nghệ An) và Lethe melisana Monastyrskii, 2005 (Ngọc Linh, Kon Tum); Họ Amathusiidae có loài Aemora simulatrix Monastyrskii & Devyatkin, 2003 (Gia Lai). Năm 2006, báo cáo kỹ thuật số 7 đánh giá khu hệ động thực vật tại vùng cảnh quan Hành lang xanh của Dickinson và Văn Ngọc Thịnh đã ghi nhận được 336 loài Bướm thuộc 10 họ.
Kết quả đánh giá cũng ghi nhận về sự phân bố mới, có nhiều loài lần đầu tiên ghi nhận ở Miền Trung Việt Nam mà trước đây nó chỉ được tìm thấy ở Miền Bắc hoặc Miền Nam Việt Nam như các loài Lethe minerva (Satyridae), Paralaxita thuisto (Riodinidae), Arhopala abseus, A. aurelia (Lycaenidae) (trước đây chỉ được tìm thấy ở miền Nam Việt Nam); Ypthima praenubila (Satyridae), Heliophorus epicles và Tajuria ister (Lycaenidae) trước đây được coi là phân bố ở miền 8 Bắc Việt Nam. Vũ Văn Liên và Vũ Quang Côn (2007) đã nghiên cứu về biến động quần thể một số loài bướm (Lepidoptera: Rhopalocera) theo mùa ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động quần thể của các loài bướm ở khu vực núi Tam Đảo nói chung đạt đỉnh cao ở vào hai thời điểm là tháng 5 hoặc 6 và tháng 9 hoặc 10.