Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tài nguyên cây thuốc trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu và sử dụng tài nguyên cây thuốc trên thế giới Từ xa xưa, con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe.
Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của từng châu lục, từng quốc gia và từng dân tộc. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các sách chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ. Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn. Dược thảo ở châu Á được ghi nhận từ rất sớm, dựa trên nghiên cứu khảo cổ học từ 60.000 năm về trước, khi khai quật một ngôi mộ cổ của người Neanderthal ở Iraq, có chứa 8 loại cây thuốc khác nhau như: Ma hoàng (Ephedra sinica), Cỏ thi (Achillea millefolium),.
Nói đến dược thảo ở châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ. Ở Trung Quốc, dược thảo được phát triển như là một phần của văn hóa Trung Hoa.000 năm về trước (từ năm 2.697 TCN), dược thảo ở Trung Quốc được biết đến nhờ một nhân vật huyền thoại gọi là Thần Nông. Người ta nói rằng, Thần Nông bằng cách nếm thử hàng trăm loại thảo mộc, đã mô tả về giá trị chữa bệnh và đặc điểm của hơn 70 loại thảo mộc [208]. Nhiều loại thảo mộc đã đượ c sử dụng thường xuyên cho việc chăm sóc sức khỏe ở Trung Quốc cổ đại và các kiến thức đã được lưu lại bằng truyền miệng qua nhiều thế kỷ.
Các loại thảo mộc được mô tả một cách chính thức trong cuốn sách đặt theo tên của Thần Nông, mà ngày nay được biết đến là “Shennong Bencao Jing” của tác giả sống trong giai đoạn ngay sau sự sụp đổ của triều đại nhà Hán (202 TCN - 220) [129]. Trong cuốn “Shennong Bencao Jing” đã đề cập đến 364 loại dược liệu; bao gồm 252 loại bộ phận của cây, 67 loại bộ phận động vật và 46 loại khoáng sản làm thuốc; đồng thời cũng mô tả tác dụng chữa bệnh của chúng [164]. Chính cuốn sách này đã tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay. Tiếp đến, hơn 240 loại dược thảo và 52 đơn thuốc đã được mô tả trong cuốn sách có tên là “52 Bing-Fang” được khai quật tại một ngôi mộ cổ vào năm 168 TCN tại Trung Quốc [200].
Đến năm 659, cuốn “Xin Xiu Ben Cao” đã ghi lại 850 loại dược thảo, đây là cuốn dược điển nổi tiếng ở Trung Quốc và cả trên thế giới [164]. Năm 1596, Li đã ghi nhận 1.892 loại dược thảo và 11.096 công thức chữa bệnh trong cuốn “Ben Cao Gang Mu” [144]. Đến năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Đại từ điển đông dược” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Và gần đây, trong cuốn “Dược `Ìi`ÊÜÌ ÊÌ iÊ`iÊÛiÀÃÊvÊ vÝÊ*ÀÊ* Ê `ÌÀÊ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com /ÊÀiÛiÊÌ ÃÊÌVi]ÊÛÃÌ\Ê ÜÜܰVi°VÉÕV° Ì thảo toàn thư” của Andrew đã đề cập đến bộ sách “Cây thuốc Trung Quốc” liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh được biết từ trước tới nay [90].
Trong cuốn “Taiwanese native medicinal plants”, Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng chữ cái của tên Latinh [137]. Ấn Độ cũng là quốc gia có truyền thống sử dụng các loại dược thảo lâu đời. Nền y học cổ truyền Ấn Độ được gọi là Ayurveda có nguồn gốc từ thời cổ xưa. Chữ Ayurveda được tạo thành bởi các từ có ý nghĩa: “Ayus” có nghĩa là “sống” hay “trường thọ” và “Veda” có nghĩa là “khoa học” và “tri thức”.
Từ cách đây 6.000 năm, tại Ấn Độ, y học Ayurveda đã sử dụng bột nghệ để làm thuốc chữa bệnh [65, 206].000 năm trước, các dẫn liệu lâu đời về việc sử dụng cây thuốc được tìm thấy trên một phiến đất sét của người Sumer ở Nagpur, Ấn Độ, bao gồm 12 công thức chữa bệnh có đề cập đến hơn 250 loại cây khác nhau [125]. Trong quyển kinh của người Aryan có tên là Vedas được viết vào năm 1.500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó. Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Shiva (vị thánh của sức khỏe) và cây được trồng gần các đền thờ. Nhiều loại dược thảo và khoáng chất sử dụng trong y học Ayurveda sau đó đã được hai thầy thuốc nổi tiếng của Ấn Độ là Charaka (thế kỷ II) và Sushruta (thế kỷ IV) mô tả trong các tác phẩm của họ.
Charaka trong tác phẩm “Charaka Samhita” đã mô tả 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng vật. Sushruta trong tác phẩm “Sushruta Samhita” cũng đã mô tả 760 loại dược liệu trong đó có Gai đầu (Cannabis) và Hyoscyamus [99]. Gần đây, y học Ayurveda đã phát triển mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả, theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc [90]. Dãy Himalaya hùng vĩ, cho đến nay đã tìm thấy khoảng 8.000 loài thực vật Hạt kín, 44 loài thực vật Hạt trần; trong đó có 1.748 loài được sử dụng như là cây thuốc.
Hay ở khu vực Hy Mã Lạp Sơn từ lâu đã nổi tiếng cung cấp nguồn cây thuốc chữa bệnh cho hàng triệu người dân. Hiện nay, lĩnh vực dược liệu ở Ấn Độ sử dụng khoảng 280 loài cây thuốc, trong đó có 175 được tìm thấy ở Hy Mã Lạp Sơn [74]. Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và việc sử dụng các cây thuốc ở đây cũng đã góp phần tạo ra nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Người đầu tiên phải kể đến đó là Theophrastus (371 - 287 TCN), nhà bác học nổi tiếng trong lịch sử của khoa học Hy Lạp, là “cha đẻ của thực vật học”, ông có công lớn trong việc phân loại và mô tả về cây thuốc.
Khoảng thời gian 350 - 287 TCN, Theophrastus đã viết `Ìi`ÊÜÌ ÊÌ iÊ`iÊÛiÀÃÊvÊ vÝÊ*ÀÊ* Ê `ÌÀÊ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com /ÊÀiÛiÊÌ ÃÊÌVi]ÊÛÃÌ\Ê ÜÜܰVi°VÉÕV° Ì hai cuốn sách “De causis plantarium” và “De historia plantarium”, trong đó đề cập đến hơn 500 loài cây thuốc [213]. Dioscorides (40 - 90), là một thầy thuốc Hy Lạp, ông đã viết một cuốn sách dược thảo có tên “De material medica”. Quyển sách này bao gồm 500 loại thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây, là sách tham khảo chính ở châu Âu và Trung Đông trong hơn 1.500 năm và do đó cuốn sách trở thành tiền thân của các dược điển hiện đại. Trong thời kỳ trung cổ, “De materia medica” được dịch ra tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Ả Rập.
Thời kỳ Phục Hưng từ năm 1478 trở đi, cuốn sách này đã được in bằng tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp [174]. Pliny the Elder (23-79) là một nhà tự nhiên học, nhà triết học La Mã, ông đã viết cuốn “Naturalis historia” đề cập đến khoảng 1.000 loài cây khác nhau [169]. Nhiều kiến thức y học truyền thống của châu Âu về cây thuốc đều bắt nguồn từ Dioscorides và Pliny. Vào thế kỷ thứ VII, người Slavic ở Trung và Đông Âu đã sử dụng một số loại dược thảo như: Hương thảo (Rosmarinus officinalis), Húng quế (Ocimum basilicum), Bạc hà (Mentha viridis),.
để chăm sóc sức khỏe và dùng Tỏi (Alium sativum) như một phương thuốc chữa bệnh hiệu quả [77]. Charles Đại đế hay Charles I (742 - 814), vua của Ý từ năm 774, người sáng lập ra trường y có uy tín ở Salerno, trong tác phẩm “Capitularies” đã trích dẫn 100 loài cây thuốc khác nhau, trong đó loài Xô thơm (Salvia officinalis) được đánh giá rất cao. Tên Latinh của loài này bắt nguồn từ “salvare” nghĩa là “chữa bệnh”, thậm chí loài này được trồng bắt buộc trong tất cả các tu viện của Công giáo [194]. Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây “dấu hiệu của thần thánh” và công dụng y học của chúng.
Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống như các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi. Cũng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI, tại Scotland các thầy tu đã sử dụng cây Thuốc phiện (Papaver somniferum) và cây Cần xa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê [90]. Các công trình tiêu biểu trong thời kỳ này là cuốn “De re medica” của John Mesue, cuốn “Canon medicine” của Avicenna và cuốn “Liber magnae collectionis simplicum alimentorum et medicamentorum” của Ibn Baitar, trong đó có hơn 1.000 cây thuốc đã được mô tả [193]. Cuộc hành trình của Marco Polo (1254 - 1324) ở vùng nhiệt đới châu Á, Trung Quốc, Ba Tư và cuộc hành trình của Vasco De Gama đến Ấn Độ (1498) đã đưa vào châu Âu nhiều cây thuốc.
Từ đó, nhiều vườn thực vật được xây dựng trên khắp châu Âu và việc trồ ng cây thuốc đã được thực hiện [168]. Năm 1597, John Gerard (1545 - 1612) xuất bản cuốn sách “The herball” với nhiều thông tin về dược thảo. Ngoài ra, cuốn sách còn `Ìi`ÊÜÌ ÊÌ iÊ`iÊÛiÀÃÊvÊ vÝÊ*ÀÊ* Ê `ÌÀÊ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com /ÊÀiÛiÊÌ ÃÊÌVi]ÊÛÃÌ\Ê ÜÜܰVi°VÉÕV° Ì kể đến nhiều loại cây được các nhà thám hiểm và thương nhân mang vào châu Âu [90]. Năm 1652, Nicholas Culpeper (1616 - 1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides và Paracelsus, cùng với kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy thuốc địa phương, ông đã cho xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian”.
Đây là cuốn sách bán chạy nhất và được tái bản nhiều lần. Dược thảo châu Âu không chỉ mang tính bản xứ như: cây Kim sa (Arnica montana) được dùng nhiều trong các bài thuốc dân gian ở châu Âu, uống trà Kim sa sẽ làm giảm chứng viêm họng ở tuổi già và cây Bạch đầu ông (Anemone pulsatilla) được sử dụng nhiều trong ngành dược thảo Thụy Sĩ, Đức, Ý, Pháp; còn cây Hoa chuông (Symphytum officinale) đặc biệt được ưa chuộng ở Anh,.; mà còn mang tính ngoại nhập như cây Bạch quả (Ginkgo biloba) có tác dụng cải thiện hệ tuần hoàn máu lên não, giúp bồi bổ trí nhớ [90]. Ở châu Phi, việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc đã có từ thời xa xưa.