CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐIỀU KIỆN GIAO KHOÁN Ở CÁC ĐƠN VỊ XÂY DỰNG 1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐƠN VỊ XÂY DỰNG 1. Đặc điểm ngành xây dựng Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế quốc phòng của đất nước.
Góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đặc điểm của nổi bật của ngành xây dựng là khá nhạy cảm với nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng thì tốc độ tăng trưởng của ngành rất cao do nhu cầu xây dựng tăng cao, do đó doanh thu và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị trì trệ do người dân không còn tiền để bỏ ra xây dựng nhà cửa, chính phủ không còn ngân sách để mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như cầu cống, bến cảng, sân bay, trường học, bệnh viện… Điều này làm do doanh thu và lợi nhuận của ngành bị giảm sút.
Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng luôn biến đổi và thiếu tính ổn định tùy theo địa điểm xây dựng. Trong xây dựng, nhân công và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, từ địa điểm này đến địa điểm khác trong khi sản phẩm xây dựng (các công trình xây dựng) thì hoàn thành và đứng yên tại địa điểm xây dựng. Đây là một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành khác. Điều này đỏi hỏi phải có phương án xây dựng về mặt kỹ thuật và tổ chức sản xuất cũng phải thay đổi tùy theo từng địa điểm xây dựng và giai đoạn thi công.
Đặc điểm này gây khó khăn trong việc tổ Luan van 9 chức sản xuất, khó cải thiện đời sống cho người lao động và có thể gây phát sinh chi phí cho khâu di chuyển. Việc lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, phấn đấu giảm các chi phí trong quá trình vận chuyển, lợi dụng tối đa lực lượng lao động tại chỗ, tìm hiểu thị trường nguyên vật liệu tại chỗ để có thể giảm tối đa chi phí. Từ đó tạo sự cạnh tranh trong việc lập dự toán giá dự thầu. Định hướng phục vụ của ngành theo kiểu đơn đặt hàng.
Do đó tính chất hàng hoá trong đơn vị xây dựng thể hiện không rõ nét. Giá cả thường được xác định trước khi sản phẩm xây dựng được hoàn thành. Quan hệ kinh tế giữa các bên trong xây dựng được điều tiết bởi các điều khoản trong hợp đồng giao nhận thầu xây dựng. Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, thời gian thi công và sử dụng lâu dài, mang tính chất cố định cao và phụ thuộc nhiều vào điều kiện của từng địa phương.
Những sản phẩm này phân bố ở khắp nơi, mang tính đa dạng cả về chủng loại và công dụng. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh trong đơn vị xây dựng ảnh hưởng đến công tác kế toán Xây lắp là một bộ phận của ngành xây dựng. Nó cũng mang những đặc trưng vốn có của ngành. Điều đó có những tác động rất lớn đến việc tổ chức sản xuất kinh doanh của những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này.
Sản phẩm cuả ngành xây dựng là những công trình, vật kiến trúc đáp ứng nhu cầu sử dụng của toàn xã hội như trong các lĩnh vực dân dụng, cầu đường, thủy lợi… Hoặc sản phẩm xây dựng lại là tư liệu sản xuất để tiếp tục quá trình sản xuất như nhà xưởng, xí nghiệp… Do đó sản phẩm của ngành xây dựng thường khác nhau bởi quy mô, thiết kế, thẩm mỹ… Điều đó đòi hỏi muốn tổ chức quản lý tốt nhất thiết phải có dự toán thiết kế và thi công. Căn cứ vào dự toán thiết kế, thi công, các nhà quản lý phải kiểm soát chi phí sao Luan van 10 cho không được vượt dự toán. Và công việc của kế toán phải kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và các khoản chi phí dự toán khác. Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác ngoài kế hoạch để đề xuất các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Trong điều kiện hiện nay, tổ chức sản xuất kinh doanh trong đơn vị xây lắp thường tiến hành theo các đơn đặt hàng. Chính vì vậy, giá cả của sản phẩm xây dựng thường được xác định trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu hoặc đấu thầu trở lên phổ biến trong sản xuất xây dựng. Quan hệ kinh doanh giữa bên giao thầu và bên nhận thầu được điều tiết bởi các hợp đồng nhận thầu xây dựng. Để củng cố tính kỷ luật của kế hoạch và quan hệ hạch toán giữa tổ chức nhận thầu và bên giao thầu, đồng thời nâng cao trách nhiệm vật chất về việc hoàn thành kịp thời và đầy đủ mọi nhiệm vụ của bên nhận thầu, bên nhận thầu thường áp dụng việc giao khoán sản phẩm xây lắp cuối cùng cho các tổ, đội, bộ phận thi công tiến hành sản xuất.
Đó chính là một phương pháp tích cực và hiệu quả, đem lại thành công cho ngành xây dựng trong những năm qua. Sản phẩm của ngành xây dựng là các công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành và được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Một công trình có thể bao gồm nhiều hạng mục công trình nhỏ nằm trong một bản thiết kế và giá trị của các hạng mục được tính chung trong tổng dự toán. Từng hạng mục công trình lại là các đối tượng xây dựng có thiết kế, dự toán riêng trong thiết kế chung và dự toán tổng hợp với các đối tượng dự toán khác.
Điều này đòi hỏi kế toán phải tập hợp và theo dõi chi phí cho từng hạng mục công trình. Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành hạng mục công trình để đề xuất các khả năng và biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và có hiệu quả. Khi công trình hoàn thành, kế toán phải tính giá thành cho từng công trình cụ thể. Luan van 11 Trong công tác tổ chức sản xuất vì các công trình đặt trên các địa bàn khác nhau do đó phải di chuyển máy móc, vật tư, nhiên liệu nhân công tới vị trí đó để thực hiện hợp đồng thi công.
Chính đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất. Do vậy hình thức khoán công trình cho các tổ, đội thực hiện đang được áp dụng rộng rãi nhằm khắc phục tình trạng này. Các tổ, đội trực tiếp nhận khoán sẽ có quyền từ quyết định việc mua vật tư, nhiên liệu ở đâu để vừa đảm bảo chất lượng thi công công trình vừa giúp giảm chi phí. Tương tự vậy đối với nhân công thời vụ đội, tổ sẽ thuê tại địa phương để tiết kiệm chi phí trong quá trình thi công công trình.
Chu kỳ sản xuất dài và thiếu tính ổn định là một đặc trưng nổi bật của các đơn vị xây lắp. Đặc điểm này làm cho vốn sản xuất xây lắp bị ứ đọng lâu tại các công trình xây lắp dở dang. Tuy nhiên, hợp đồng giao nhận thầu với chủ đầu tư lại được ký kết cho suốt quá trình xây dựng. Chính vì vậy mà đòi hỏi phải đẩy nhanh công tác thi công xây lắp.
Điều này phụ thuộc phần lớn vào các tổ đội trực tiếp thi công. Do đó, khoán công trình, hạng mục công trình cho đội thi công kết hợp giám sát trực tiếp từ phía đơn vị là giải pháp cần thiết. Thời gian thi công một công trình thường kéo dài, qua nhiều kỳ kế toán nên kế toán phải quan tâm đến việc phân bổ chi phí cho các công trình phải tương ứng với thời gian và giá trị công trình. Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời, chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu.
Các tổ, đội thi công trực tiếp tại các công trường trong môi trường tự nhiên với nhiều yếu tố biến động. Nếu loại trừ các yếu tố này thì đội thi công chính là bộ phận quyết định số lượng, chất lượng công tác xây lắp, quyết định các khoản chi phí và quyết định giá thành của sản phẩm xây lắp. Điều này tạo ra khả năng phân tích, đánh giá và kiểm soát chi phí trong đơn vị xây lắp theo các nhân tố nguồn phát sinh chi phí. Công tác kế toán quản trị chi Luan van 12 phí sẽ tập trung trực tiếp vào các đội thi công để xác định rõ mạng lưới chu chuyển chi phí do các bộ phận này tạo nên nhờ tiêu thụ các nguồn lực được cung cấp.
Ngoài ra, tổ chức sản xuất kinh doanh trong đơn vị xây lắp còn có đặc điểm là rất phức tạp, chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây dựng mang lại và tốc độ phát triển kỹ thuật thường chậm hơn so với các đơn vị trong các ngành sản xuất khác. Cùng một loại công trình nhưng nếu nó được đặt tại vị trí có sẵn nguồn nguyên vật liệu xây dựng, sẵn nguồn máy thi công cho thuê và nhân công có sẵn thì người nhận thầu có cơ hội hạ thấp chi phí sản xuất từ đó tạo sự cạnh tranh trong công tác đấu thầu và có lợi trong việc gia tăng lợi nhuận. Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh xây dựng, trong đó khâu quản lý thi công xây lắp là nổi bật hơn cả. Thực tế ở nước ta, khâu này thường tỏ ra yếu kém và không hoàn thiện trong những năm qua và chủ yếu là áp dụng cách quản lý thi công theo kế hoạch lập sẵn.
Hiện nay, các đơn vị xây dựng thường áp dụng hình thức giao khoán xây dựng để quản lý hữu hiệu hơn công tác thi công xây lắp các công trình xây dựng. HOẠT ĐỘNG GIAO KHOÁN TRONG ĐƠN VỊ XÂY DỰNG 1. Lịch sử hoạt động giao khoán Khoán là một hình thức tổ chức quản lý sản xuất đã được áp dụng trong nhiều ngành như khoán diện tích trong nông nghiệp, khoán sản phẩm trong công nghiệp, khoán doanh thu trong dịch vụ… Khoán trong xây dựng khởi nguồn từ Liên Xô (cũ), gắn liền với tên tuổi của anh hùng lao động N.Dơbôlin và phương pháp quản lý tiến độ thi công mới trong các doanh nghiệp xây dựng.