Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về hàm ý và dịch thuật, dịch hàm ý. Các nhà ngôn ngữ có chung quan điểm rằng hàm ý là loại nghĩa thêm vào sau câu chữ của phát ngôn. Vì vậy, hàm ý rất khó được dịch một cách thỏa đáng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Dịch thuật, với vai trò là một hoạt động giao tiếp, có nhiệm vụ truyền tải hàm ý một cách tương đương từ VBN sang VBĐ.
Một số kết quả nghiên cứu về hàm ý và dịch hàm ý của tác giả trên thế giới và trong nước cũng được đề cập đến trong chương này. Với việc thống kê, mô tả, phân tích phát ngôn ở VBN và VBĐ, chúng tôi làm rõ những tương đồng và khác biệt liên quan đến hàm ý trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương 2, 3 nghiên cứu phương thức dịch giả sử dụng để dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Phân tích đối chiếu phát ngôn, chúng tôi đã bước đầu khảo sát một số phương thức dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, gồm dịch bảo toàn, dịch cải biên và dịch bỏ qua hàm ý.
Ở chương 4, chúng tôi đề xuất hệ thống bài tập dịch hàm ý nhằm rèn luyện và nâng cao kỹ năng dịch hàm ý cho người học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành tiếng Anh tại Trường Đại học Hồng Đức. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình hình nghiên cứu về hàm ý và dịch hàm ý 1. Hàm ý và các vấn đề liên quan Grice là người đầu tiên đưa ra khái niệm hàm ý và giới thiệu nguyên tắc cộng tác hội thoại với dạng tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh/chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh/chị đã chấp nhận tham gia vào” [105].
Nguyên tắc này bao gồm bốn phạm trù và mỗi phạm trù ấy lại tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” hay còn gọi là “phương châm hội thoại” (maxims), đó là: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức. Grice cho rằng nguyên tắc và phương châm cộng tác của ông có thể giúp “nhận biết và lý giải những hàm ý” của phát ngôn. Theo ông, trong giao tiếp người ta phải tuân thủ nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại nhưng việc vi phạm chúng cũng rất phổ biến. Hàm ý hội thoại được tạo ra nhờ những vi phạm đó.
How is C getting on in his job? B. Oh, quite well, I think; he likes his colleagues, and he hasn‟t been to prison yet. Nghe câu trả lời, A có thể hiểu được những gì B muốn ngụ ý, gợi ý hay muốn nói khi nói rằng Hắn chưa phải vào tù (he hasn‟t been to prison yet). Câu trả lời có thể hàm ý C là loại người không chịu nổi sự cám dỗ mà công việc của anh ta tạo ra, hay Đồng nghiệp của C là những người xấu tính và bất trung, v.
Một số nhà ngôn ngữ khác đưa ra các nguyên tắc liên quan đến giao tiếp và hội thoại như nguyên tắc lịch sự của Lakoff (1973) hay của Leech (1983). Đây là nguyên tắc gần với kết cấu nguyên tắc và phương châm hội thoại của Grice. Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác. Phép lịch sự có hiệu lực giải thích phát ngôn, cách thức nói năng và giải thích cái mà ngữ dụng học thường đề cập tới: hàm ngôn, hành vi gián tiếp.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Orecchioni (1986), khi bàn về tính quan yếu, nhận định rằng một phát ngôn có thể có tính quan yếu về ngữ dụng, lập luận, hứng thú hay đề tài, trong đó tính quan yếu về đề tài là phương diện gần gũi nhất với phương châm quan yếu (maxim of relevance) của Grice. Sperber và Wilson (1995) đã phân tích và tìm ra những hạn chế trong lý thuyết của Grice và bổ sung vào “lỗ hổng” đấy bằng quy tắc quan yếu – được cho là bao quát cả phương châm quan hệ của Grice. Hai tác giả này chia hoạt động thuyết giải các phát ngôn của chúng ta thành hai giai đoạn: Giai đoạn giải mã phát ngôn để rút ra hình thức lôgic của phát ngôn đó và hình thức lôgic này sẽ đảm nhận vai trò làm “đầu vào” cho giai đoạn kế tiếp – giai đoạn suy ý, giai đoạn trung tâm của hoạt động thuyết giải. Họ cũng nhấn mạnh là bất kể phát ngôn nào – dù nó có vi phạm các phương châm hội thoại hay không, đều phải trải qua giai đoạn suy ý từ nghĩa theo câu chữ để tìm ra tính quan yếu của chúng và khẳng định rằng mỗi người chúng ta khi giao tiếp, chúng ta đều có ý định tìm cách lôi kéo sự chú ý của người nghe và ngầm cho rằng điều chúng ta nói sẽ đủ quan yếu xứng đáng với sự chú ý đó của họ.
Theo hai tác giả thì trong trường hợp đó, nhiệm vụ của người nghe là phải suy cho ra cái ý định của người nói và đó là lý do để nói rằng thuyết giải một phát ngôn là suy ý để tìm ra ý nghĩa thỏa đáng mà người nói muốn truyền đạt. Ở giai đoạn suy ý trung tâm, việc làm giàu thêm theo ngữ cảnh hình thức lôgic được mã hóa để từ đó xây dựng được giả thuyết về ý định thông tin của người nói là rất quan trọng. Và hai ông đã kết luận rằng những biểu diễn ngữ nghĩa được mã hóa bằng ngôn ngữ đều là những cấu trúc tinh thần trừu tượng cần được làm giàu bằng suy ý để có thể có được một giá trị nào đó. Đặc biệt, Davis (1998/2014) đã có những công trình nghiên cứu công phu về hàm ý và ông đã xác định vị trí quan trọng của hàm ý trong ngữ dụng học.
Theo ông, “Hàm ý là điều được ám chỉ, ngụ ý hay gợi ý khác biệt với điều được nói. Hàm ý có thể là một phần nghĩa của câu hay phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp, và có thể theo quy ước hay trái với quy ước. Hàm ý hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học” [96] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, cho dù các nhà ngôn ngữ có những quan điểm khác nhau về các nguyên tắc giao tiếp và hội thoại, có thể ở phạm vi rộng hẹp khác nhau nhưng việc tuân thủ các nguyên tắc này cũng như việc vi phạm chúng cũng vẫn là cơ sở để xem xét một loại ý nghĩa rất phổ biến trong hội thoại hàng ngày, đó là hàm ý. Thuật ngữ hàm ý Thuật ngữ implicate được Grice (1989, 1975) sử dụng với chức năng là một động từ chỉ hành động biểu đạt ngầm một điều gì đó khác với điều được nói ra một cách hiển ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định nào đó (được gọi là điều được hàm ý).
Thuật ngữ implicature là một danh từ, biểu thị điều được hàm ý trong phát ngôn. (2006) đã bàn về ý nghĩa của thuật ngữ này như sau: “Dù sao, Grice đã thận trọng khi sử dụng động từ implicate (hàm ý) chứ không phải là imply (nói bóng gió) để chỉ điều mà người nói đã làm, và ông đã đặt ra thuật ngữ implicature (hàm ý) để sử dụng thay cho việc ngụ ý cái mà người nói hàm ý” [77] Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới khi nghiên cứu về thuyết hàm ý hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một số vấn đề về ngôn ngữ cụ thể đã sử dụng thuật ngữ implicate như một động từ với nghĩa là hàm (ý) hoặc hàm (cái) ý và implicature như một danh từ với nghĩa là hàm ý một cách thống nhất như cách dùng của Grice. Thuật ngữ implicature được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau: hàm ngôn – một loại nghĩa hàm ẩn trong đối lập với tiền giả định (Đỗ Hữu Châu, 2005); hàm nghĩa và ẩn ý (Cao Xuân Hạo, 1998); hàm ý (Nguyễn Đức Dân, 1998; Hoàng Phê, 1989). Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học dùng thuật ngữ hàm ý để chỉ cả implicate (hàm (cái) ý – động từ) và implicature (hàm ý – danh từ).
Chúng ta có thể thấy rõ cách dùng tương tự như vậy của Hoàng Phê khi ông viết: “(…) khi đó, người nói nói P nhưng hàm ý (implicate) Q, nếu Q là cần thiết để cho những phương châm bị vi phạm trở thành không còn bị vi phạm nữa” [55, 102] và dẫn chứng thêm rằng “Grice nêu khái niệm conversational implicature (tạm dịch là hàm ý hội thoại) để chỉ các hiện tượng thường thấy sau đây trong sử dụng ngôn ngữ thường ngày để giao 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp: khi nói điều này, thật ra, chúng ta muốn nói điều khác” [55, 100] hay “ … thường có hàm ý (implicature) khi người nói có ý thức và nhằm một mục đích nhất định, không tuân theo đầy đủ các phương châm nói trên” [55, 101]. Để thống nhất cách dùng thuật ngữ, chúng tôi sử dụng cách dùng của Hoàng Phê đối với thuật ngữ hàm ý với hai nghĩa: chỉ hành động tạo ra hàm ý, hay hàm (cái) ý (tương đương với implicate trong tiếng Anh) và chỉ cái được hàm ý (tương đương với implicature trong tiếng Anh) trong toàn bộ nghiên cứu này. Khái niệm hàm ý Hàm ý là một trong những phạm trù phổ biến trong ngôn ngữ. Theo Grice (1975), hàm ý (implicature) là những gì người nói muốn ngụ ý, gợi ý hay ngầm nói, khác với những gì người ấy nói ra qua câu chữ.
Sau này, nhiều nhà ngôn ngữ học khác như Bouton (1988, 1990, 1992), Back (1994), Blackwell (2002) cũng đã sử dụng, đồng thời củng cố, bổ sung hoặc mở rộng khái niệm này. Hàm ý là một trong những vấn đề trọng tâm của ngữ dụng học. Horn (2004) đã tổng kết rằng: “Nói về hàm ý, những gì một phát ngôn hàm ý thường đồng nhất với những gì người nói ám chỉ hơn là cái câu đó ám chỉ. Chính vì vậy mà một số tác giả giới hạn thuật ngữ “hàm ý” là hàm ý của người nói (speaker implicature)” [129, 3-4].
George Yule (1997) cũng cho rằng hàm ý là những gì được truyền đạt ngoài phát ngôn còn Ducrot (1972) nhận định hiển ngôn là cái người ta nói ra, còn hàm ý là cái người ta muốn mà không nói ra.