Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt (Trên cứ liệu ngôn ngữ hội thoại trong tác phẩm văn học)" do nghiên cứu sinh Trịnh Thị Thơm thực hiện năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của GS. TS. Đinh Văn Đức và PGS. TS. Nguyễn Hồng Cổn. Công trình thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số 62 22 01 01.

Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong sự hành chức (language in use), đặc biệt là mối quan hệ ngữ nghĩa - ngữ dụng trong hoạt động giao tiếp liên ngữ. Hàm ý (implicature) là loại nghĩa phổ biến trong hội thoại hàng ngày, truyền tải những thông tin mà người nói không diễn đạt tường minh bằng câu chữ. Trong khi việc chuyển dịch văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã được quan tâm trên diễn đàn dịch thuật, việc chuyển dịch hàm ý vẫn chưa được khảo sát một cách hệ thống với tư cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: chưa có công trình nào miêu tả, phân loại và xác lập cụ thể các phương thức dịch hàm ý (bao gồm cả hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại) từ tiếng Anh sang tiếng Việt dựa trên cứ liệu văn học đối chiếu, cũng như chưa chỉ rõ các nhân tố chi phối quá trình lựa chọn phương thức dịch của dịch giả.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định các phương thức mà dịch giả đã sử dụng để chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên cứ liệu ngôn ngữ hội thoại trong tác phẩm văn học, bổ sung cơ sở lý thuyết dịch thuật liên ngữ Anh - Việt, và xây dựng hệ thống dạng bài tập rèn luyện kỹ năng dịch hàm ý cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 điểm:

  1. Điểm luận một cách có hệ thống tình hình nghiên cứu, lý thuyết về hàm ý, dịch thuật và dịch hàm ý.
  2. Khảo sát phương thức dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
  3. Xác định các nhân tố tác động đến việc lựa chọn phương thức dịch phát ngôn có hàm ý.
  4. Đề xuất hệ thống dạng bài tập rèn luyện và nâng cao kỹ năng dịch hàm ý.

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hàm ý được tạo lập, nhận diện như thế nào trên cứ liệu ngôn ngữ hội thoại trong tiếng Anh và tiếng Việt?
  2. Các phát ngôn có hàm ý đã được dịch giả chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt theo những phương thức nào?
  3. Nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt của các dịch giả?
  4. Ứng dụng lý thuyết về dịch hàm ý và phương thức dịch phát ngôn có hàm ý vào xây dựng hệ thống dạng bài tập luyện kỹ năng dịch như thế nào?

Đối tượng nghiên cứu là phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, dựa trên việc so sánh, đối chiếu và phân tích phát ngôn có hàm ý ở văn bản nguồn (VBN) và văn bản đích (VBĐ).

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở ngôn ngữ hội thoại trong các tác phẩm văn học Anh - Mỹ trải dài từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 21 đã được dịch sang tiếng Việt, khảo sát theo một chiều duy nhất từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Nguồn tư liệu khảo sát bao gồm 5.701 trang tiếng Anh và 2.941 trang tiếng Việt, trích xuất từ 16 truyện ngắn thuộc tuyển tập Truyện ngắn chọn lọc của Ernest Hemingway cùng 05 tác phẩm văn học khác: tiểu thuyết Giã từ vũ khí (A Farewell to Arms) và Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls) của Ernest Hemingway, Phía bên kia nửa đêm (The Other Side of Midnight) của Sidney Sheldon, Đồi gió hú (Wuthering Heights) của Emily Brontë, và Annabella – người phụ nữ tuyệt vời của Danielle Steel. Từ nguồn ngữ liệu này, tác giả đã thu thập và đưa vào phân tích 1.018 lượt biểu thức ngôn ngữ mang hàm ý quy ước và 451 phát ngôn chứa hàm ý hội thoại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về phương diện lý thuyết ngữ dụng và hàm ý, luận án điểm lại các công trình nền tảng trên thế giới:

  • H. P. Grice (1975, 1989): Đề xuất khái niệm hàm ý (implicature), phân biệt hàm ý quy ước (conventional implicature) và hàm ý hội thoại (conversational implicature), xác lập Nguyên tắc cộng tác (Cooperative Principle) cùng bốn phương châm hội thoại (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức).
  • John Lyons (1995): Mở rộng phạm vi hàm ý quy ước ra ngoài liên từ, bao gồm các tiểu từ tình thái và các phạm trù ngữ pháp như thời, thức.
  • R. Lakoff (1973) và G. Leech (1983): Phát triển nguyên tắc lịch sự nhằm giải thích hành vi ngôn ngữ gián tiếp và hàm ngôn.
  • C. K. Orecchioni (1986): Nghiên cứu tính quan yếu theo các bình diện ngữ dụng, lập luận, đề tài.
  • D. Sperber và D. Wilson (1995): Đề xuất Lý thuyết Quan yếu (Relevance Theory), phân chia tiến trình thuyết giải thành hai giai đoạn giải mã và suy ý.
  • W. Davis (1998/2014), L. Horn (2004), G. Yule (1997), O. Ducrot (1972), L. Bouton (1988, 1990, 1992), K. Bach (1994), S. Blackwell (2002), S. Reiber (1997): Đào sâu các khía cạnh nhận diện, xử lý kết tử và suy luận ngữ dụng.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về nghĩa hàm ẩn và hàm ý được tác giả tổng hợp từ:

  • Đỗ Hữu Châu (1993, 2003, 2005): Phân loại nghĩa hàm ẩn (tiền giả định, hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại, dẫn ý), xác định cơ chế vi phạm quy tắc hội thoại và chiếu vật - chỉ xuất.
  • Cao Xuân Hạo (1998, 2005): Tiếp cận hàm nghĩa, ẩn ý và xem hàm ý hội thoại là thành tố ý nghĩa cần được phục hồi trong dịch thuật.
  • Nguyễn Đức Dân (1998), Hoàng Phê (1989), Đinh Văn Đức (1998), Trần Ngọc Thêm (1999), Nguyễn Thiện Giáp (2000, 2012), Đỗ Thị Kim Liên (2000), Nguyễn Văn Hiệp (2006, 2012): Nghiên cứu cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ dụng, tiêu chí phân định các loại nghĩa ngầm ẩn trong tiếng Việt.
  • Các công trình khảo sát ứng dụng hàm ý: Huỳnh Công Hiển (2000), Từ Thu Mai (2000), Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Lê Anh Xuân (2005), Nguyễn Thị Bé (2008), Lê Thị Minh Thu (2014), Nguyễn Thị Tố Ninh (2014).

Về lý thuyết dịch thuật và chuyển dịch hàm ý:

  • Lý thuyết dịch thuật quốc tế: J. C. Catford (1965, 1994), G. Mounin (1963), E. Nida và C. Taber (1964, 1968/1982), P. Newmark (1988, 1995, 1998), W. Koller (1990), M. Baker (1992), B. Hatim và I. Mason (1990, 1997), M. Larson (1984, 1998), J. Munday (2001), L. Barkhudarov (1975).
  • Lý thuyết dịch thuật tại Việt Nam: Lê Quang Thiêm (2004), Hoàng Văn Vân (2005), Nguyễn Hồng Cổn (2001, 2006), Lê Hùng Tiến (2006, 2010), Nguyễn Phước Vĩnh Cố và Ngô Trần Ái Diễm (2012).
  • Nghiên cứu chuyên biệt về dịch hàm ý: A. S. Abdellah (2003, 2004) khảo sát dịch hàm ý trong kịch Othello sang tiếng Ả Rập; E. D. Sharifabad (2009) khảo sát dịch phát ngôn có hàm ý trong Kinh Koran sang tiếng Anh; M. Samardali cùng cộng sự (2013) nghiên cứu tác động của ngữ dụng và văn hóa khi dịch hàm ý từ tiếng Ả Rập sang tiếng Anh.

Vị trí của luận án: Các công trình trên thế giới về dịch hàm ý chủ yếu so sánh đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Ả Rập, trong khi các công trình trong nước chủ yếu dừng lại ở phân tích ngữ dụng học miêu tả thuần túy. Luận án này lấp khoảng trống nghiên cứu bằng cách kết hợp khung lý thuyết ngữ dụng học của Grice - Lyons với lý thuyết dịch thuật dựa trên nghĩa của Mildred Larson và hệ thống phương pháp dịch Anh - Việt của Nguyễn Hồng Cổn, từ đó xác lập mô hình phân loại các phương thức chuyển dịch hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên nguồn ngữ liệu hội thoại văn học thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba trụ cột lý thuyết chính:

  1. Thuyết hàm ý của H. P. Grice (1975), mở rộng bởi J. Lyons (1995) và hệ thống hóa bởi Nguyễn Văn Hiệp (2012) về phân biệt các loại thông tin ngầm ẩn.
  2. Lý thuyết dịch thuật dựa trên nền tảng ngữ nghĩa của Mildred Larson (1998), xem dịch thuật là quá trình chuyển tải toàn bộ nội dung ý nghĩa (bao gồm cả nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn) từ văn bản nguồn sang văn bản đích.
  3. Hệ thống 5 phương pháp dịch Anh - Việt do Nguyễn Hồng Cổn (2006) đề xuất: Dịch nguyên văn, Dịch nghĩa, Dịch thông báo, Dịch tự do và Phỏng dịch.

Để phân biệt hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại với các loại nghĩa hàm ẩn khác (dẫn ý, tiền giả định), luận án áp dụng bảng tiêu chí sau:

Loại thông tin ngầm ẩn Tính hàm chân trị Tính có thể bị khử bỏ Tính phụ thuộc vào ngữ cảnh Vi phạm quy tắc giao tiếp
Hàm ý quy ước - + - -
Hàm ý hội thoại - + + +

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và thống kê mô tả ngữ liệu, gồm ba phương pháp chính và hai thủ pháp:

  • Phương pháp phân tích mô tả: Phân tích cấu trúc bề mặt (hình thức) và cấu trúc sâu (nội dung/nghĩa) của phát ngôn ở cả VBN và VBĐ để nhận diện hàm ý.
  • Phương pháp phân tích đối chiếu: So sánh cặp phát ngôn tiếng Anh (PNTA) và phát ngôn tiếng Việt (PNTV), xác định mức độ tương đương về hình thức và ngữ nghĩa của hàm ý.
  • Phương pháp phân tích tương đương dịch thuật: Đánh giá mối quan hệ tương đương giữa VBN và VBĐ trên các phương diện: tương đương cả hình thức lẫn nội dung; tương đương nội dung nhưng khác hình thức; tương đương hình thức nhưng khác nội dung; khác biệt cả hình thức và nội dung.
  • Thủ pháp thống kê: Lựa chọn, phân loại và thống kê tần suất xuất hiện của 1.018 đơn vị hàm ý quy ước và 451 phát ngôn hàm ý hội thoại theo nhóm mục đích phát ngôn (trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán) và theo mức độ tương đương.
  • Thủ pháp phân tích ngữ cảnh: Đặt phát ngôn vào ngữ cảnh hội thoại cụ thể của tác phẩm văn học để giải mã ý định giao tiếp của nhân vật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hàm ý, dịch thuật và dịch hàm ý. Luận án phân tích cơ chế tạo lập và tiếp nhận hàm ý trong hai ngôn ngữ Anh - Việt qua các phương thức:

  • Vi phạm các phương châm hội thoại (Lượng, Chất, Quan hệ, Cách thức).
  • Vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất: Tiếng Anh sử dụng đại từ nhân xưng 3 ngôi đơn giản, tạo khoảng cách hoặc hàm ý trách móc bằng cách dùng chỉ xuất tầm xa ở ngôi thứ ba (ví dụ: Somebody didn't clean up after himself!); tiếng Việt sở hữu hệ thống từ xưng hô thân tộc và xã hội phức tạp, việc thay đổi cặp từ xưng hô (như chuyển từ anh - em sang anh - tôi) tạo ra hàm ý giận hờn, mỉa mai rõ rệt mà không cần tuyên bố tường minh.
  • Tạo sự bất thường về ngữ nghĩa: Tiếng Anh sử dụng lối nói ghép nghĩa, chơi chữ; tiếng Việt thường dùng phép đảo trật tự từ để tạo nghĩa hàm ẩn.
  • Không hoàn tất các bước lập luận: Đưa ra luận cứ tường minh không mang giá trị thông tin mới nhưng buộc người nghe phải tự suy ra kết luận (hoặc ngược lại).
  • Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp: Dùng câu hỏi để đe dọa, nhắc nhở hoặc yêu cầu (ví dụ giáo viên hỏi học sinh đi muộn: Em có biết mấy giờ vào học không?).

Về dịch thuật, chương này làm rõ quan niệm dịch thuật là quá trình giao tiếp liên văn hóa, trong đó người dịch đóng vai trò trung gian xử lý nhận thức (theo mô hình nhóm 4T của Mildred Larson: The Text, The Target, Team, Tools). Luận án cũng chỉ ra những trở ngại khi chuyển dịch hàm ý giữa hai ngôn ngữ khác loại hình (tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập), đồng thời thiết lập định nghĩa về 3 phương thức dịch hàm ý cơ bản: dịch bảo toàn hàm ý, dịch cải biên hàm ý, và dịch bỏ qua hàm ý.

Chương 2: Phương thức chuyển dịch hàm ý quy ước từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 2 đi sâu khảo sát bản chất và các phương thức dịch 1.018 lượt biểu thức ngôn ngữ mang hàm ý quy ước. Luận án phân loại hàm ý quy ước thành hai nhóm:

  1. Hàm ý quy ước tạo lập qua phương tiện từ ngữ:
    • Trong tiếng Anh: Các liên từ kết tử (and, but, therefore, however, moreover, nevertheless, yet) và các tiểu từ tình thái (even, well, just). Ví dụ từ therefore tạo hàm ý quy ước về quan hệ nhân quả tất yếu.
    • Trong tiếng Việt: Các liên từ (nhưng, song, và), quán ngữ tình thái so sánh (huống gì, nữa là), phó từ chỉ kết quả và thời thể (ra, đi, vẫn, lại). Ví dụ phó từ ra trong "Nó béo ra" thể hiện hàm ý đánh giá tích cực.
  2. Hàm ý quy ước tạo lập qua cấu trúc ngữ pháp chuyên biệt: Các cấu trúc chỉ thời, thể (như hiện tại hoàn thành), cấu trúc câu bị động (hàm ý làm mờ chủ thể hành động), cấu trúc mệnh lệnh rút gọn chủ ngữ (hàm ý hướng đến ngôi thứ hai), câu nhấn mạnh.

Dựa trên khảo sát thực tế, tác giả phân tích và tổng hợp các phương thức dịch hàm ý quy ước:

  • Dịch bảo toàn hàm ý quy ước: Dịch giả tìm kiếm các phương tiện từ vựng hoặc cấu trúc tương đương trong tiếng Việt để chuyển tải trọn vẹn hàm ý của biểu thức gốc.
  • Dịch cải biên hàm ý quy ước: Thay đổi phương tiện biểu đạt hoặc biến đổi sắc thái ý nghĩa của hàm ý quy ước nhằm tạo sự tự nhiên trong ngữ cảnh tiếng Việt.
  • Dịch bỏ qua hàm ý quy ước: Dịch giả lược bỏ biểu thức mang hàm ý hoặc chuyển dịch theo nghĩa tường minh, làm mất đi nét nghĩa ngầm ẩn quy ước của nguyên bản.

Chương 3: Phương thức chuyển dịch hàm ý hội thoại từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 3 tập trung phân tích 451 phát ngôn chứa hàm ý hội thoại trích từ ngữ liệu văn học, đối chiếu giữa VBN và VBĐ dựa trên nguyên tắc tương đương chức năng và tương đương ngữ nghĩa. Luận án phân loại chi tiết các phương thức dịch gắn với tiêu chí tương đương hình thức:

  1. Dịch bảo toàn hàm ý hội thoại:
    • Dịch phát ngôn đảm bảo tương đương về hình thức: VBĐ giữ nguyên cấu trúc cú pháp (câu hỏi, câu trần thuật, câu cầu khiến) và giữ nguyên vẹn hàm ý gốc.
    • Dịch phát ngôn không đảm bảo tương đương về hình thức: VBĐ thay đổi cấu trúc câu (ví dụ chuyển từ câu hỏi sang câu trần thuật) nhưng vẫn duy trì đúng hàm ý của phát ngôn gốc.
  2. Dịch bảo toàn có bổ sung hàm ý hội thoại:
    • Dịch phát ngôn đảm bảo tương đương về hình thức.
    • Dịch phát ngôn không đảm bảo tương đương về hình thức: Dịch giả bổ sung thêm từ ngữ chỉ dẫn hoặc mở rộng câu chữ để làm rõ hàm ý cho người đọc tiếng Việt mà không làm sai lệch ý định ban đầu.
  3. Dịch cải biên hàm ý hội thoại:
    • Dịch phát ngôn đảm bảo tương đương về hình thức.
    • Dịch phát ngôn không đảm bảo tương đương về hình thức: Hàm ý trong VBĐ bị dịch giả thay đổi một phần về mức độ, phạm vi hoặc sắc thái biểu cảm so với VBN.
  4. Dịch bỏ qua hàm ý hội thoại:
    • Dịch phát ngôn đảm bảo tương đương về hình thức.
    • Dịch phát ngôn không đảm bảo tương đương về hình thức: Dịch giả dịch theo nghĩa đen bề mặt (literal translation) hoặc tường minh hóa hoàn toàn, làm triệt tiêu hàm ý hội thoại ban đầu.

Chương này phân tích các phát ngôn theo 4 nhóm mục đích giao tiếp (trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán) và tổng kết các nhân tố tác động đến việc lựa chọn phương thức dịch: năng lực ngữ dụng của dịch giả, sự khác biệt loại hình ngôn ngữ Anh - Việt, và đặc trưng văn hóa - xã hội được phản ánh trong tác phẩm.

Chương 4: Đề xuất hệ thống dạng bài tập dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 4 vận dụng các kết quả nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn vào hoạt động giảng dạy dịch thuật cho sinh viên ngành Sư phạm tiếng Anh, Trường Đại học Hồng Đức.

Trước hết, tác giả chỉ ra các trở ngại và lỗi phổ biến của sinh viên khi dịch phát ngôn có hàm ý:

  • Lỗi dịch cấu trúc: Sinh viên có xu hướng rập khuôn cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh sang tiếng Việt (như lạm dụng từ "bị/được" khi dịch câu bị động, dịch gượng ép các thì hoàn thành).
  • Lỗi dịch ngữ nghĩa: Không nhận diện được cơ chế vi phạm phương châm hội thoại, dịch theo nghĩa đen từng từ dẫn đến làm sai lệch hoặc mất hoàn toàn hàm ý của nhân vật.

Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống gồm 4 dạng bài tập thực hành dịch:

  1. Bài tập phân tích văn bản có hàm ý: Yêu cầu người học nhận diện ngữ cảnh, mối quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp và xác định tiền giả định.
  2. Bài tập xác định và tường minh hóa hàm ý: Yêu cầu người học chỉ ra phương châm hội thoại bị vi phạm, diễn giải nội dung hàm ý bằng lời văn tường minh trước khi dịch.
  3. Bài tập dịch phát ngôn có hàm ý: Cung cấp các đoạn hội thoại cụ thể và yêu cầu người học lựa chọn phương thức dịch thích hợp (bảo toàn, bảo toàn có bổ sung, hoặc cải biên).
  4. Bài tập đánh giá bản dịch có hàm ý: Đưa ra các phương án dịch khác nhau của cùng một phát ngôn để người học so sánh, phân tích mức độ tương đương ngữ dụng và chỉnh sửa lỗi dịch.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết về hàm ý và dịch hàm ý trong thế đối chiếu giữa một ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) và một ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt).
  • Mở rộng phạm vi nhận diện hàm ý quy ước trong tiếng Anh sang các cấu trúc ngữ pháp chuyên biệt (thời, thể, câu bị động, câu mệnh lệnh rút gọn).
  • Xác lập khung phân loại các phương thức chuyển dịch hàm ý gồm: Dịch bảo toàn, Dịch bảo toàn có bổ sung, Dịch cải biên, và Dịch bỏ qua hàm ý, kết hợp với tiêu chí tương đương về hình thức phát ngôn.
  • Khái quát hóa các nhân tố ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ (văn hóa, ngữ cảnh, kiến thức nền, năng lực tiếp nhận của độc giả đích) chi phối quyết định lựa chọn phương thức dịch của dịch giả.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn ngữ liệu đối chiếu gồm 1.018 lượt biểu thức hàm ý quy ước và 451 phát ngôn hàm ý hội thoại trích từ 8.642 trang văn bản văn học Anh - Việt (5.701 trang tiếng Anh và 2.941 trang tiếng Việt).
  • Xây dựng hệ thống 4 dạng bài tập dịch phát ngôn có hàm ý có tính ứng dụng trực tiếp cho môn học Thực hành dịch của sinh viên ngành Sư phạm tiếng Anh tại Trường Đại học Hồng Đức, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy dịch thuật theo định hướng phát triển năng lực người học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án chỉ khảo sát cứ liệu ngôn ngữ hội thoại trong phạm vi 6 tác phẩm/tuyển tập văn học Anh - Mỹ (Hemingway, Sheldon, Brontë, Steel) và các bản dịch tiếng Việt tương ứng, chưa mở rộng ra các phong cách chức năng khác như văn bản báo chí, chính luận, khoa học hay khẩu ngữ đời thường. Ngoài ra, nghiên cứu được thực hiện theo một chiều đơn hướng từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản gợi mở việc khảo sát chuyển dịch hàm ý theo chiều ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Anh, cũng như mở rộng nghiên cứu sang các thể loại văn bản phi văn học và khảo sát các loại nghĩa hàm ẩn khác ngoài hàm ý.

Giá trị tham khảo

Công trình hữu ích đối với:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu dịch thuật: Cung cấp khung lý thuyết và tiêu chí phân tích tương đương ngữ dụng trong dịch Anh - Việt.
  • Sinh viên chuyên ngành tiếng Anh và ngành dịch thuật: Nâng cao kỹ năng giải mã hàm ý văn bản nguồn và lựa chọn phương thức chuyển dịch phù hợp thông qua hệ thống bài tập tại Chương 4.
  • Dịch giả văn học: Tham khảo các phương thức xử lý hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại tại Chương 2 và Chương 3 để giải quyết các thách thức chuyển ngữ liên văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án căn cứ vào những tiêu chí nào để phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại?
Luận án căn cứ vào 4 tiêu chí được tổng hợp tại Bảng 1 (trang 14): Tính hàm chân trị (cả hai đều không mang tính hàm chân trị), Tính có thể bị khử bỏ (cả hai đều có thể bị khử bỏ), Tính phụ thuộc vào ngữ cảnh (hàm ý quy ước không phụ thuộc, hàm ý hội thoại phụ thuộc), và Vi phạm quy tắc giao tiếp (hàm ý quy ước không vi phạm, hàm ý hội thoại có vi phạm).

2. Nguồn ngữ liệu thực nghiệm của luận án có dung lượng và thành phần như thế nào?
Ngữ liệu gồm 5.701 trang tiếng Anh và 2.941 trang tiếng Việt từ 16 truyện ngắn của Hemingway và 5 tác phẩm: Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai (Hemingway), Phía bên kia nửa đêm (Sidney Sheldon), Đồi gió hú (Emily Brontë), và Annabella – người phụ nữ tuyệt vời (Danielle Steel). Tác giả đã trích xuất 1.018 lượt biểu thức hàm ý quy ước và 451 phát ngôn chứa hàm ý hội thoại.

3. Khung phân loại phương thức dịch hàm ý của luận án gồm những nhóm nào?
Khung phân loại gồm 4 phương thức: Dịch bảo toàn hàm ý, Dịch bảo toàn có bổ sung hàm ý, Dịch cải biên hàm ý, và Dịch bỏ qua hàm ý (tường minh hóa). Mỗi phương thức lại được chia thành hai nhánh nhỏ dựa trên tiêu chí: Đảm bảo tương đương về hình thức hoặc Không đảm bảo tương đương về hình thức.

4. Những lỗi dịch hàm ý phổ biến nào của người học được luận án chỉ ra?
Luận án chỉ ra hai nhóm lỗi chính: Lỗi dịch cấu trúc (áp đặt cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh như câu bị động, thời thể vào tiếng Việt) và Lỗi dịch ngữ nghĩa (dịch theo nghĩa đen từng từ, không nhận diện được ngữ cảnh và phương châm hội thoại bị vi phạm, làm mất hoặc biến dạng hàm ý).

5. Hệ thống bài tập tại Chương 4 được thiết kế thành những dạng cụ thể nào?
Hệ thống gồm 4 dạng: Bài tập phân tích văn bản có hàm ý; Bài tập xác định và tường minh hóa hàm ý; Bài tập dịch phát ngôn có hàm ý; và Bài tập đánh giá bản dịch có hàm ý.

Kết luận

Luận án của tác giả Trịnh Thị Thơm là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên cứ liệu hội thoại văn học. Bằng việc kết hợp lý thuyết ngữ dụng học của Grice, Lyons với các mô hình dịch thuật của Mildred Larson và Nguyễn Hồng Cổn, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế chuyển ngữ và phân loại có hệ thống các phương thức dịch hàm ý quy ước lẫn hàm ý hội thoại. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung lý luận dịch thuật Anh - Việt mà còn mang giá trị ứng dụng thực tiễn trong công tác đào tạo biên dịch tại các trường đại học.