Luận Án Tiến Sĩ Về Phương Thức Chuyển Dịch Phát Ngôn Có Hàm Ý Từ Tiếng Anh Sang Tiếng Việt

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu nghiên cứu phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng anh sang tiếng việt trên cứ liệu, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Lý luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

172
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tình hình nghiên cứu về hàm ý và dịch hàm ý

1.1.1. Hàm ý và các vấn đề liên quan

2. PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH HÀM Ý QUY ƢỚC TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

2.1. Hàm ý quy ước. Các loại hàm ý quy ước

2.2. Hàm ý quy ước được tạo lập thông qua các phương tiện từ ngữ

2.3. Hàm ý quy ước được tạo lập thông qua các cấu trúc ngữ pháp chuyên biệt

2.4. Phương thức dịch hàm ý quy ước từ tiếng Anh sang tiếng Việt

2.4.1. Dịch bảo toàn hàm ý quy ước

2.4.2. Dịch cải biên hàm ý quy ước

2.4.3. Các trường hợp dịch bỏ qua hàm ý quy ước

2.4.4. Tổng hợp phương thức dịch hàm ý của các biểu thức ngôn ngữ

3. PHƢƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH HÀM Ý HỘI THOẠI TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

3.1. Hàm ý hội thoại

3.2. Các loại hàm ý hội thoại

3.3. Tương đương về chức năng và nghĩa trong dịch thuật và dịch hàm ý

3.4. Dịch bảo toàn hàm ý hội thoại

3.5. Dịch phát ngôn đảm bảo tương đương về hình thức

3.6. Dịch phát ngôn không đảm bảo tương đương về hình thức

3.7. Dịch bảo toàn có bổ sung hàm ý hội thoại

3.8. Dịch cải biên hàm ý hội thoại

3.9. Dịch bỏ qua hàm ý hội thoại

3.10. Tổng hợp phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý hội thoại từ tiếng Anh sang tiếng Việt

4. ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG DẠNG BÀI TẬP DỊCH PHÁT NGÔN CÓ HÀM Ý TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT

4.1. Những trở ngại sinh viên thường gặp khi dịch phát ngôn có hàm ý

4.2. Một số lỗi sinh viên thường mắc khi dịch phát ngôn có hàm ý

4.2.1. Lỗi dịch cấu trúc trong chuyển dịch Anh – Việt

4.2.2. Lỗi dịch ngữ nghĩa

4.3. Đề xuất hệ thống dạng bài tập dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt

4.3.1. Bài tập phân tích văn bản có hàm ý

4.3.2. Bài tập xác định và tường minh hóa hàm ý

4.3.3. Bài tập dịch phát ngôn có hàm ý

4.3.4. Bài tập đánh giá bản dịch có hàm ý

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Tính thời sự của đề tài

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

6. Bố cục của luận án

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Chuyển Dịch Phát Ngôn Có Hàm Ý

Nghiên cứu chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt trong văn học là một lĩnh vực quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về cách thức ngôn ngữ hoạt động trong giao tiếp. Hàm ý, theo Grice, là những gì người nói muốn ngụ ý mà không nói ra một cách rõ ràng. Việc chuyển dịch hàm ý không chỉ đơn thuần là dịch nghĩa mà còn là việc truyền tải thông điệp ẩn chứa trong ngôn ngữ. Điều này đặc biệt quan trọng trong văn học, nơi mà ngôn ngữ thường mang nhiều tầng nghĩa.

1.1. Khái niệm và Vai trò của Hàm Ý trong Ngôn Ngữ

Hàm ý là một khái niệm quan trọng trong ngôn ngữ học, giúp người nghe hiểu được thông điệp mà người nói muốn truyền đạt. Nó không chỉ là những gì được nói ra mà còn là những gì được ngụ ý. Việc nhận diện hàm ý giúp tăng cường khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa giữa các ngôn ngữ.

1.2. Tình hình Nghiên Cứu về Chuyển Dịch Hàm Ý

Nghiên cứu về chuyển dịch hàm ý đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc chuyển dịch hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và ngữ nghĩa. Những nghiên cứu này đã mở ra hướng đi mới cho việc tìm hiểu và phát triển phương pháp dịch thuật hiệu quả.

II. Những Thách Thức trong Chuyển Dịch Phát Ngôn Có Hàm Ý

Chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Có nhiều thách thức mà dịch giả phải đối mặt, bao gồm sự khác biệt về ngữ nghĩa, văn hóa và cách diễn đạt. Những thách thức này có thể dẫn đến việc mất đi ý nghĩa hoặc thông điệp mà người nói muốn truyền đạt.

2.1. Khác Biệt Văn Hóa và Ngữ Nghĩa

Khác biệt văn hóa giữa tiếng Anh và tiếng Việt có thể tạo ra những khó khăn trong việc hiểu và chuyển dịch hàm ý. Một số cụm từ hoặc cách diễn đạt trong tiếng Anh có thể không có tương đương trực tiếp trong tiếng Việt, dẫn đến việc dịch giả phải tìm cách diễn đạt lại mà vẫn giữ được ý nghĩa.

2.2. Việc Nhận Diện Hàm Ý trong Ngữ Cảnh

Việc nhận diện hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp. Dịch giả cần phải hiểu rõ ngữ cảnh để có thể chuyển dịch chính xác. Nếu không, thông điệp có thể bị hiểu sai hoặc không truyền tải được đúng ý nghĩa mà người nói muốn gửi gắm.

III. Phương Pháp Chuyển Dịch Phát Ngôn Có Hàm Ý

Để chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, có nhiều phương pháp khác nhau mà dịch giả có thể áp dụng. Những phương pháp này không chỉ giúp duy trì ý nghĩa mà còn đảm bảo tính tự nhiên của ngôn ngữ đích.

3.1. Dịch Bảo Toàn Hàm Ý

Phương pháp dịch bảo toàn hàm ý là cách thức mà dịch giả cố gắng giữ nguyên ý nghĩa và thông điệp của phát ngôn gốc. Điều này đòi hỏi dịch giả phải có kiến thức sâu rộng về cả hai ngôn ngữ và văn hóa để có thể truyền tải chính xác thông điệp.

3.2. Dịch Cải Biên và Bổ Sung Hàm Ý

Trong một số trường hợp, dịch giả có thể cần phải cải biên hoặc bổ sung hàm ý để phù hợp với ngữ cảnh văn hóa của ngôn ngữ đích. Phương pháp này giúp làm rõ thông điệp và đảm bảo rằng người đọc có thể hiểu được ý nghĩa mà không bị nhầm lẫn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn của Nghiên Cứu Chuyển Dịch

Nghiên cứu về chuyển dịch phát ngôn có hàm ý không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng hệ thống bài tập cho sinh viên ngành Sư phạm tiếng Anh.

4.1. Đề Xuất Hệ Thống Bài Tập Dịch

Hệ thống bài tập dịch phát ngôn có hàm ý sẽ giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng dịch thuật, từ đó nâng cao khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Các bài tập này có thể bao gồm việc phân tích văn bản, xác định và tường minh hóa hàm ý.

4.2. Nâng Cao Kỹ Năng Dịch cho Sinh Viên

Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu vào giảng dạy sẽ giúp sinh viên phát triển kỹ năng dịch thuật một cách hiệu quả. Điều này không chỉ giúp sinh viên tự tin hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ mà còn chuẩn bị cho họ những kỹ năng cần thiết trong môi trường làm việc.

V. Kết Luận và Tương Lai của Nghiên Cứu Chuyển Dịch

Nghiên cứu chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch thuật mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực ngôn ngữ học.

5.1. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về cách thức chuyển dịch hàm ý, từ đó nâng cao chất lượng dịch thuật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa hiện nay.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra nhiều thể loại văn bản khác nhau và áp dụng các phương pháp nghiên cứu mới để tìm hiểu sâu hơn về hàm ý trong ngôn ngữ. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm kiến thức về chuyển dịch ngôn ngữ và văn hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương thức chuyển dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng anh sang tiếng việt trên cứ liệu ngôn ngữ hội thoại trong tác phẩm văn học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về hàm ý và dịch thuật, dịch hàm ý. Các nhà ngôn ngữ có chung quan điểm rằng hàm ý là loại nghĩa thêm vào sau câu chữ của phát ngôn. Vì vậy, hàm ý rất khó được dịch một cách thỏa đáng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Dịch thuật, với vai trò là một hoạt động giao tiếp, có nhiệm vụ truyền tải hàm ý một cách tương đương từ VBN sang VBĐ.

Một số kết quả nghiên cứu về hàm ý và dịch hàm ý của tác giả trên thế giới và trong nước cũng được đề cập đến trong chương này. Với việc thống kê, mô tả, phân tích phát ngôn ở VBN và VBĐ, chúng tôi làm rõ những tương đồng và khác biệt liên quan đến hàm ý trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương 2, 3 nghiên cứu phương thức dịch giả sử dụng để dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Phân tích đối chiếu phát ngôn, chúng tôi đã bước đầu khảo sát một số phương thức dịch phát ngôn có hàm ý từ tiếng Anh sang tiếng Việt, gồm dịch bảo toàn, dịch cải biên và dịch bỏ qua hàm ý.

Ở chương 4, chúng tôi đề xuất hệ thống bài tập dịch hàm ý nhằm rèn luyện và nâng cao kỹ năng dịch hàm ý cho người học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngành tiếng Anh tại Trường Đại học Hồng Đức. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình hình nghiên cứu về hàm ý và dịch hàm ý 1. Hàm ý và các vấn đề liên quan Grice là người đầu tiên đưa ra khái niệm hàm ý và giới thiệu nguyên tắc cộng tác hội thoại với dạng tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh/chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh/chị đã chấp nhận tham gia vào” [105].

Nguyên tắc này bao gồm bốn phạm trù và mỗi phạm trù ấy lại tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” hay còn gọi là “phương châm hội thoại” (maxims), đó là: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức. Grice cho rằng nguyên tắc và phương châm cộng tác của ông có thể giúp “nhận biết và lý giải những hàm ý” của phát ngôn. Theo ông, trong giao tiếp người ta phải tuân thủ nguyên tắc cộng tác và các phương châm hội thoại nhưng việc vi phạm chúng cũng rất phổ biến. Hàm ý hội thoại được tạo ra nhờ những vi phạm đó.

How is C getting on in his job? B. Oh, quite well, I think; he likes his colleagues, and he hasn‟t been to prison yet. Nghe câu trả lời, A có thể hiểu được những gì B muốn ngụ ý, gợi ý hay muốn nói khi nói rằng Hắn chưa phải vào tù (he hasn‟t been to prison yet). Câu trả lời có thể hàm ý C là loại người không chịu nổi sự cám dỗ mà công việc của anh ta tạo ra, hay Đồng nghiệp của C là những người xấu tính và bất trung, v.

Một số nhà ngôn ngữ khác đưa ra các nguyên tắc liên quan đến giao tiếp và hội thoại như nguyên tắc lịch sự của Lakoff (1973) hay của Leech (1983). Đây là nguyên tắc gần với kết cấu nguyên tắc và phương châm hội thoại của Grice. Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác. Phép lịch sự có hiệu lực giải thích phát ngôn, cách thức nói năng và giải thích cái mà ngữ dụng học thường đề cập tới: hàm ngôn, hành vi gián tiếp.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Orecchioni (1986), khi bàn về tính quan yếu, nhận định rằng một phát ngôn có thể có tính quan yếu về ngữ dụng, lập luận, hứng thú hay đề tài, trong đó tính quan yếu về đề tài là phương diện gần gũi nhất với phương châm quan yếu (maxim of relevance) của Grice. Sperber và Wilson (1995) đã phân tích và tìm ra những hạn chế trong lý thuyết của Grice và bổ sung vào “lỗ hổng” đấy bằng quy tắc quan yếu – được cho là bao quát cả phương châm quan hệ của Grice. Hai tác giả này chia hoạt động thuyết giải các phát ngôn của chúng ta thành hai giai đoạn: Giai đoạn giải mã phát ngôn để rút ra hình thức lôgic của phát ngôn đó và hình thức lôgic này sẽ đảm nhận vai trò làm “đầu vào” cho giai đoạn kế tiếp – giai đoạn suy ý, giai đoạn trung tâm của hoạt động thuyết giải. Họ cũng nhấn mạnh là bất kể phát ngôn nào – dù nó có vi phạm các phương châm hội thoại hay không, đều phải trải qua giai đoạn suy ý từ nghĩa theo câu chữ để tìm ra tính quan yếu của chúng và khẳng định rằng mỗi người chúng ta khi giao tiếp, chúng ta đều có ý định tìm cách lôi kéo sự chú ý của người nghe và ngầm cho rằng điều chúng ta nói sẽ đủ quan yếu xứng đáng với sự chú ý đó của họ.

Theo hai tác giả thì trong trường hợp đó, nhiệm vụ của người nghe là phải suy cho ra cái ý định của người nói và đó là lý do để nói rằng thuyết giải một phát ngôn là suy ý để tìm ra ý nghĩa thỏa đáng mà người nói muốn truyền đạt. Ở giai đoạn suy ý trung tâm, việc làm giàu thêm theo ngữ cảnh hình thức lôgic được mã hóa để từ đó xây dựng được giả thuyết về ý định thông tin của người nói là rất quan trọng. Và hai ông đã kết luận rằng những biểu diễn ngữ nghĩa được mã hóa bằng ngôn ngữ đều là những cấu trúc tinh thần trừu tượng cần được làm giàu bằng suy ý để có thể có được một giá trị nào đó. Đặc biệt, Davis (1998/2014) đã có những công trình nghiên cứu công phu về hàm ý và ông đã xác định vị trí quan trọng của hàm ý trong ngữ dụng học.

Theo ông, “Hàm ý là điều được ám chỉ, ngụ ý hay gợi ý khác biệt với điều được nói. Hàm ý có thể là một phần nghĩa của câu hay phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp, và có thể theo quy ước hay trái với quy ước. Hàm ý hội thoại đã trở thành một trong những chủ đề chính của ngữ dụng học” [96] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, cho dù các nhà ngôn ngữ có những quan điểm khác nhau về các nguyên tắc giao tiếp và hội thoại, có thể ở phạm vi rộng hẹp khác nhau nhưng việc tuân thủ các nguyên tắc này cũng như việc vi phạm chúng cũng vẫn là cơ sở để xem xét một loại ý nghĩa rất phổ biến trong hội thoại hàng ngày, đó là hàm ý. Thuật ngữ hàm ý Thuật ngữ implicate được Grice (1989, 1975) sử dụng với chức năng là một động từ chỉ hành động biểu đạt ngầm một điều gì đó khác với điều được nói ra một cách hiển ngôn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định nào đó (được gọi là điều được hàm ý).

Thuật ngữ implicature là một danh từ, biểu thị điều được hàm ý trong phát ngôn. (2006) đã bàn về ý nghĩa của thuật ngữ này như sau: “Dù sao, Grice đã thận trọng khi sử dụng động từ implicate (hàm ý) chứ không phải là imply (nói bóng gió) để chỉ điều mà người nói đã làm, và ông đã đặt ra thuật ngữ implicature (hàm ý) để sử dụng thay cho việc ngụ ý cái mà người nói hàm ý” [77] Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới khi nghiên cứu về thuyết hàm ý hội thoại của Grice cũng như vận dụng nó vào việc tìm hiểu một số vấn đề về ngôn ngữ cụ thể đã sử dụng thuật ngữ implicate như một động từ với nghĩa là hàm (ý) hoặc hàm (cái) ý và implicature như một danh từ với nghĩa là hàm ý một cách thống nhất như cách dùng của Grice. Thuật ngữ implicature được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau: hàm ngôn – một loại nghĩa hàm ẩn trong đối lập với tiền giả định (Đỗ Hữu Châu, 2005); hàm nghĩa và ẩn ý (Cao Xuân Hạo, 1998); hàm ý (Nguyễn Đức Dân, 1998; Hoàng Phê, 1989). Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học dùng thuật ngữ hàm ý để chỉ cả implicate (hàm (cái) ý – động từ) và implicature (hàm ý – danh từ).

Chúng ta có thể thấy rõ cách dùng tương tự như vậy của Hoàng Phê khi ông viết: “(…) khi đó, người nói nói P nhưng hàm ý (implicate) Q, nếu Q là cần thiết để cho những phương châm bị vi phạm trở thành không còn bị vi phạm nữa” [55, 102] và dẫn chứng thêm rằng “Grice nêu khái niệm conversational implicature (tạm dịch là hàm ý hội thoại) để chỉ các hiện tượng thường thấy sau đây trong sử dụng ngôn ngữ thường ngày để giao 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiếp: khi nói điều này, thật ra, chúng ta muốn nói điều khác” [55, 100] hay “ … thường có hàm ý (implicature) khi người nói có ý thức và nhằm một mục đích nhất định, không tuân theo đầy đủ các phương châm nói trên” [55, 101]. Để thống nhất cách dùng thuật ngữ, chúng tôi sử dụng cách dùng của Hoàng Phê đối với thuật ngữ hàm ý với hai nghĩa: chỉ hành động tạo ra hàm ý, hay hàm (cái) ý (tương đương với implicate trong tiếng Anh) và chỉ cái được hàm ý (tương đương với implicature trong tiếng Anh) trong toàn bộ nghiên cứu này. Khái niệm hàm ý Hàm ý là một trong những phạm trù phổ biến trong ngôn ngữ. Theo Grice (1975), hàm ý (implicature) là những gì người nói muốn ngụ ý, gợi ý hay ngầm nói, khác với những gì người ấy nói ra qua câu chữ.

Sau này, nhiều nhà ngôn ngữ học khác như Bouton (1988, 1990, 1992), Back (1994), Blackwell (2002) cũng đã sử dụng, đồng thời củng cố, bổ sung hoặc mở rộng khái niệm này. Hàm ý là một trong những vấn đề trọng tâm của ngữ dụng học. Horn (2004) đã tổng kết rằng: “Nói về hàm ý, những gì một phát ngôn hàm ý thường đồng nhất với những gì người nói ám chỉ hơn là cái câu đó ám chỉ. Chính vì vậy mà một số tác giả giới hạn thuật ngữ “hàm ý” là hàm ý của người nói (speaker implicature)” [129, 3-4].

George Yule (1997) cũng cho rằng hàm ý là những gì được truyền đạt ngoài phát ngôn còn Ducrot (1972) nhận định hiển ngôn là cái người ta nói ra, còn hàm ý là cái người ta muốn mà không nói ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ