PHẦN MỞ ĐẦU Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. Năm 2022, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD, trong đó, tôm là đối tượng có giá trị xuất khẩu cao nhất đạt 4,1 - 4,2 tỷ USD. Hiện nay, mô hình nuôi tôm thâm canh được triển khai và đem lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều địa phương trong cả nước. Việc kiểm soát tốt điều kiện môi trường của mô hình nuôi này giúp giảm nguy cơ dịch bệnh cho tôm.
Tuy nhiên, do mật độ tôm cao nên một lượng lớn chất thải trong quá trình nuôi bao gồm thức ăn thừa, phân, chất lơ lửng, vỏ lột xác của tôm… có khả năng gây ô nhiễm cho môi trường nước, phát sinh dịch bệnh cho tôm. Trong đó, lượng lớn vỏ lột xác của tôm có thể thu được bằng cách xi phông mỗi ngày. Tận dụng nguồn vỏ lột xác này làm nguyên liệu sản xuất chitin, chitosan không chỉ gia tăng giá trị cho tôm nuôi, mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường nuôi, nâng cao giá trị cho chuỗi nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu tôm, góp phần phát triển bền vững ngành thủy sản. Mặt khác, trong thời gian gần đây nhu cầu sử dụng các sản phẩm vi tảo làm thức ăn nuôi thủy sản đang phát triển mạnh mẽ.
Vi tảo là nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho các nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các loài cá và giáp xác ở giai đoạn ấu trùng. Trong đó, vi tảo Nannochloropsis sp. đang được sử dụng phổ biến làm thức ăn cho các ấu trùng thủy sản vì nó có kích thước nhỏ, chứa nhiều hoạt chất sinh học, hàm lượng dinh dưỡng cao. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn hiện nay cần giải quyết đó tìm ra phương pháp thu vi tảo Nannochloropsis sp.
hiệu quả với chi phí thấp, giữ được chất lượng sản phẩm sau thu nhận, phù hợp làm thức ăn thủy sản. Chitosan là polyme sinh học đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, môi trường, thực phẩm, mỹ phẩm, y dược… Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế khi sử dụng do chitosan không tan trong nước mà chỉ tan trong một số dung dịch acid loãng. Để tăng độ tan trong nước, chitosan được chuyển hóa thành các dạng như oligochitosan, muối chitosan, nanochitosan, gắn các nhóm chức ưa nước. Trong đó, chitosan lactate là sản phẩm muối hữu cơ của chitosan và lactic acid, có thể tan tốt trong nước, không độc hại và không mùi.
Ngoài ra, chitosan lactate vẫn giữ được tính chất tạo màng bao và khi hòa tan trong nước nó mang điện tích dương. Do đó, khi ứng dụng chitosan lactate 2 để thu hồi vi tảo biển (mang điện tích âm) có thể đạt hiệu quả cao (theo cơ chế trung hòa điện), dễ dàng triển khai, sản phẩm thu được an toàn. Từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu thu nhận chitosan lactate từ vỏ lột xác tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và ứng dụng thu nhận vi tảo Nannochloropsis sp.” được đề xuất thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu: 1.
Tận dụng nguồn nguyên liệu vỏ lột xác của tôm thẻ chân trắng trong quá trình nuôi thâm canh để thu nhận chitin và chitosan có độ tinh sạch cao. Xây dựng được quy trình điều chế chitosan lactate có độ tan tốt trong nước từ chitosan thu được ở trên. Xác định được điều kiện phù hợp khi sử dụng chitosan lactate để thu sinh khối vi tảo Nannochloropsis sp. Nội dung nghiên cứu: Để đạt được 3 mục tiêu nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu 3 nội dung: 1.
Nghiên cứu quy trình sản xuất chitin, chitosan có độ tinh sạch cao từ vỏ lột xác của tôm thẻ chân trắng. Nghiên cứu quy trình điều chế chitosan lactate có độ tan tốt từ sản phẩm chitosan thu nhận được ở trên. Nghiên cứu ứng dụng chitosan lactate để thu nhận sinh khối vi tảo Nannochloropsis sp. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án: 1.
Lần đầu tiên, nguyên liệu vỏ lột xác của tôm trong quá trình nuôi thâm canh được đánh giá về khả năng thu hồi, thành phần hóa học, tính chất và sử dụng để sản xuất chitin, chitosan. Đề xuất quy trình sản xuất chitin, chitosan có độ tinh sạch cao với lượng hóa chất sử dụng thấp, thời gian xử lý ngắn, không cần qua công đoạn khử màu. Đề xuất quy trình điều chế muối chitosan lactate tan tốt trong nước (độ tan > 99%) bằng phương pháp rắn – lỏng, có thể áp dụng ở quy mô lớn một cách dễ dàng. Đề xuất điều kiện thu hồi vi tảo biển Nannochloropsis sp.
đạt hiệu quả cao (khoảng 90% sau 2 giờ để lắng) khi sử dụng chitosan lactate có kết hợp điều chỉnh pH môi trường. Kết quả đề tài mở ra định hướng tận dụng vỏ lột xác tôm thẻ chân trắng tạo các sản phẩm có giá trị gia tăng (chitin, chitosan, chitosan lactate), giảm ảnh hưởng xấu đến môi trường trong quá trình nuôi tôm thâm canh. Việc sử dụng sản phẩm từ quá trình nuôi thủy sản (chitosan lactate) để thu vi tảo và ứng dụng làm thức ăn thủy sản hướng đến nền kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững cho ngành nuôi trồng thủy sản. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nuôi tôm và ô nhiễm môi trường do chất thải trong quá trình nuôi Hình 1. Tình hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020. Việt Nam là một trong những nước nuôi và xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, tập trung chủ yếu ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm các tỉnh: Long An, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và thành phố Cần Thơ. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (1995 – 2020) thì ĐBSCL là khu vực chiếm 80% tổng sản lượng tôm thu hoạch từ các ao nuôi thâm canh và siêu thâm canh so với cả nước (Hình 1.1b), tập trung chủ yếu ở 5 tỉnh có diện tích nuôi lớn nhất (Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre và Kiên Giang), nhưng chiếm chưa đến 10% diện tích đất dành cho nuôi tôm (Hình 1.
Đây là mô hình nuôi được đánh giá cao và khuyến khích các cơ sở sản xuất tôm nuôi áp dụng nhờ ưu điểm vượt trội là thời gian nuôi ngắn, rủi ro thấp, năng suất cao và có thể giảm thiểu ô nhiễm môi trường nuôi, hạn chế dịch bệnh [4]. Hiện nay, tỉnh Bạc Liêu được Thủ tướng Chính phủ chọn làm thủ phủ cho ngành tôm công nghiệp của cả nước [4, 5, 13]. Hình thức nuôi tôm thương phẩm hiệu quả cao đã được đưa vào “Đề án tổng thể phát triển ngành công nghiệp tôm nước lợ Việt Nam đến năm 2030” với mục tiêu cụ thể, tổng sản lượng tôm nuôi nước lợ đạt trên 1.000 tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng đạt trên 750.000 tấn và tôm sú đạt trên 550. Tương ứng với diện tích nuôi tôm nước lợ giữ ổn định so với sự phát triển của các năm gần đây (2020 – 2022) khoảng 750.000 ha, trong đó diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là 150.000 ha, chiếm chỉ bằng ¼ so với diện tích nuôi tôm sú (Penaeus monodon) là 600.
Diện tích nuôi tôm thẻ được đầu tư và phát triển theo xu hướng áp dụng công nghệ cao ở nhiều tỉnh trong nước từ năm 2008 [4, 5]. Việc áp dụng kỹ thuật nuôi công nghệ cao với mật độ nuôi lớn và đạt hiệu quả thu hoạch sản lượng tôm thẻ chân trắng cao đến 72% trên tổng giá trị xuất khẩu tôm năm 2020 (Hình 1. Diện tích nuôi tôm và sản lượng thu hoạch thuộc Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2020 - 2022 Loại tôm nuôi Diện tích (ha) [2] Sản lượng thu hoạch (tấn/năm) 2020 [5] 2021 [15] 2022 [16] Tôm nuôi nước lợ 750.000 Tôm thẻ chân trắng 150.000 Số liệu ở Bảng 1.1 cho thấy diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng chỉ bằng ¼ diện tích nuôi tôm sú, nhưng sản lượng tôm thẻ chân trắng cao khoảng 2,5 lần so với tôm sú. Năm 2020, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản gần như không thay đổi so với năm 2019, tuy nhiên, sản lượng tôm nuôi nước lợ lại tăng lên đạt 900.000 tấn (trong đó tôm thẻ chân trắng đạt 632.300 tấn, tôm sú đạt 267.
Năm 2021, mặc dù ngành nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19 nhưng vẫn đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng. Riêng diện tích nuôi tôm nước lợ ước đạt 737 nghìn ha, trong đó diện tích nuôi tôm sú là 622 ngìn ha và diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 115 nghìn ha. Sản lượng tôm nuôi năm 2021 đạt 931.000 tấn (tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó sản lượng tôm sú đạt 265.000 tấn và tôm thẻ chân trắng đạt 666. Năm 2022, ngành Thủy sản phấn đấu sản lượng nuôi trồng ước đạt 4,95 triệu tấn, trong đó mục tiêu đưa ra sản lượng tôm sú đạt khoảng 275.000 tấn và tôm thẻ chân trắng khoảng 675.
Năm 2022, các tỉnh tiếp tục phát triển tôm thẻ chân trắng thâm canh, bán thâm canh công nghệ cao nhằm kiểm soát môi trường ngày càng tốt hơn. Nhờ đó mà sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đến tháng 2/2022 đạt 25.500 tấn (tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước), sản lượng tôm sú đạt 14.200 tấn tương đương cùng kỳ năm 2021 [17]. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại hiện nay vẫn là sự ô nhiễm môi trường trong quá trình nuôi tôm do các hợp chất hữu cơ dư thừa do thức ăn, phân và rác thải khác (vỏ lột xác của tôm, cỏ rác từ môi trường xung quanh…) đọng lại dưới ao nuôi. Các chất thải này không xử lý sẽ hình thành một lớp bùn đáy tạo điều kiện môi trường sinh trưởng và phát triển vi sinh vật gây thối như Coliforms, Vibrio, E.
coli, Pseudomonas, Staphylococcus, Salmonella… Từ đó, ao nuôi có khả năng ứ đọng ô nhiễm hữu cơ, các loại khí độc như phốt pho, nitơ, amoniac (NH3), nitrit (NO2), H2, H2S, CH4, Mecaptan. làm giảm lượng oxy và thủy sản có khả năng bị ngộ độc. Ngoài ra còn lắng đọng các hóa chất, vôi và khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh và các chất độc có trong đất phèn Fe3+, Al3+, SO42-… [7, 14, 75]. Chính vì thế mà người nuôi trồng thường phải sử dụng hóa chất xử lý môi trường nước, kháng sinh để phòng trị bệnh cho tôm.
Đến nay, nhiều cơ sở nuôi tôm và hộ dân đã tiếp cận phương pháp nuôi thâm canh nhưng vẫn theo hình thức tự phát nên không đưa vào hệ thống ao lắng 6 để xử lý.