Luận văn thạc sĩ về điều chế và ứng dụng vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu điều chế và khảo sát ứng dụng của vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Sư Phạm Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

68
7
1

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về cây sầu riêng

1.2. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

1.3. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN

1.4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng

Vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng được nghiên cứu với mục tiêu chính là ứng dụng trong việc xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong ngành dệt nhuộm. Vỏ sầu riêng, một phế phẩm nông nghiệp, chứa nhiều thành phần hữu ích như xenlulozơ, hemixenlulozơ và lignin. Những thành phần này có khả năng tạo ra vật liệu hấp thụ hiệu quả, giúp loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng vỏ sầu riêng không chỉ giảm thiểu ô nhiễm mà còn tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, góp phần vào việc phát triển bền vững. Theo một nghiên cứu, khả năng hấp phụ của vật liệu này đối với các chất ô nhiễm như metylen xanh có thể đạt hiệu quả cao, nhờ vào cấu trúc và tính chất hóa học của nó.

1.1. Tình hình ô nhiễm môi trường và nhu cầu vật liệu hấp thụ

Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là từ ngành dệt nhuộm, đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Nước thải từ ngành này chứa nhiều hóa chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Do đó, việc tìm kiếm các vật liệu hấp thụ hiệu quả và thân thiện với môi trường là rất cần thiết. Vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng không chỉ có giá thành thấp mà còn dễ dàng thu gom và chế biến. Nghiên cứu cho thấy rằng vỏ sầu riêng có khả năng hấp phụ tốt các chất ô nhiễm, nhờ vào cấu trúc xơ và các nhóm chức hóa học có trong nó.

II. Điều chế vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng

Quá trình điều chế vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, vỏ sầu riêng được thu gom và làm sạch để loại bỏ tạp chất. Sau đó, vỏ được xử lý bằng các tác chất như NaOH và H2SO4 để tách lignin và tăng cường khả năng hấp phụ. Phương pháp này không chỉ giúp cải thiện diện tích bề mặt mà còn làm tăng tính khả dụng của các nhóm chức trên bề mặt vật liệu. Kết quả cho thấy, vật liệu sau khi xử lý có khả năng hấp phụ cao hơn so với vật liệu chưa qua xử lý. Điều này chứng tỏ rằng việc điều chế đúng cách có thể tạo ra vật liệu hấp thụ hiệu quả cho việc xử lý nước thải.

2.1. Phương pháp điều chế và phân tích vật liệu

Phương pháp điều chế vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng được thực hiện qua các bước như xử lý nhiệt, tẩy trắng và phân tích hóa học. Sử dụng phương pháp phổ hồng ngoại (IR) để xác định các nhóm chức có trong vật liệu, giúp đánh giá khả năng hấp phụ của nó. Kết quả phân tích cho thấy, vật liệu sau khi xử lý có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc hóa học, từ đó nâng cao khả năng hấp phụ các ion và chất ô nhiễm trong nước. Việc áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại giúp đảm bảo chất lượng và hiệu quả của vật liệu hấp thụ.

III. Ứng dụng vật liệu hấp thụ trong xử lý nước thải

Vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng đã được thử nghiệm trong việc xử lý nước thải từ ngành dệt nhuộm. Kết quả cho thấy, vật liệu này có khả năng hấp phụ cao đối với các chất nhuộm như metylen xanh. Thí nghiệm cho thấy, hiệu suất hấp phụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như pH, thời gian và khối lượng vật liệu sử dụng. Việc tối ưu hóa các điều kiện này là rất quan trọng để đạt được hiệu quả cao nhất trong xử lý nước thải. Sử dụng vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân thông qua việc tận dụng phế phẩm.

3.1. Khả năng hấp phụ và hiệu quả xử lý

Khả năng hấp phụ của vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng được đánh giá thông qua các thí nghiệm thực tế. Kết quả cho thấy, vật liệu này có thể hấp phụ tới 90% metylen xanh trong điều kiện tối ưu. Các yếu tố như thời gian tiếp xúc, pH và nồng độ ban đầu của chất ô nhiễm đều ảnh hưởng đến hiệu suất hấp phụ. Nghiên cứu này không chỉ khẳng định tính khả thi của việc sử dụng vỏ sầu riêng trong xử lý nước thải mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các vật liệu hấp phụ từ nguồn nguyên liệu tự nhiên.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu về vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng đã chỉ ra rằng đây là một giải pháp tiềm năng cho vấn đề ô nhiễm nước thải trong ngành dệt nhuộm. Việc sử dụng vỏ sầu riêng không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có, góp phần vào phát triển bền vững. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình điều chế và mở rộng ứng dụng của vật liệu này trong các lĩnh vực khác. Đề xuất các chính sách hỗ trợ nông dân trong việc thu gom và chế biến vỏ sầu riêng thành vật liệu hấp thụ sẽ là một bước đi quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về khả năng hấp phụ của vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng đối với các chất ô nhiễm khác nhau. Việc mở rộng nghiên cứu sang các loại phế phẩm nông nghiệp khác cũng là một hướng đi tiềm năng. Hơn nữa, cần có các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức cho nông dân về việc sử dụng và chế biến các phế phẩm nông nghiệp thành vật liệu hấp thụ, từ đó tạo ra giá trị kinh tế và bảo vệ môi trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về cây sầu riêng 1. Tên gọi Hình 1. Quả sầu riêng Sầu riêng là một trong những phế phẩm nông nghiệp có sẵn nhất được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á [14].

Tên khoa học: Durio zibethinus Murray, thuộc họ Gạo Bombacaceae bao gồm 30 loài. Durio zibethinus là loài duy nhất có sẵn trong thị trường quốc tế [16, 21]. Sầu riêng có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Tên "sầu riêng" xuất phát từ Malay, từ "Duri", có nghĩa là "cái gai" [21].

Hình thái học Cây sầu riêng có thể cao đến 45 mét [20]. Lá sầu riêng là loại lá đơn hơi rũ, lá mọc so le, đối xứng hình elip, dài từ 8-20 cm, rộng từ 2,5-7,5 cm. Mặt lá phía trên thường có màu xanh đậm, phẳng và bóng láng, còn mặt lá phía dưới hơi vảy, có màu nâu nhạt óng ánh [21]. SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 10 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Phan Thị Hoàng Oanh Hình 1. Lá quả sầu riêng Hoa sầu riêng có mùi thơm mạnh và có mật hoa. Hoa có chiều dài khoảng 50-70 mm và mỗi cụm mọc thành chùm từ 1-45 hoa. Các cụm hoa mọc trên các cành chính và nhỏ hơn, hoặc có thể mọc trực tiếp trên thân cây.

Thông thường chỉ có từ 1-2 quả sầu riêng phát triển từ mỗi chùm hoa. Hoa quả sầu riêng Hoa sầu riêng là loài lưỡng tính, có cả nhụy và nhị trong cùng một hoa. Tuy nhiên, sự tự thụ phấn hiếm khi xảy ra vì nhụy và nhị không xuất hiện cùng một lúc, hoa thụ phấn được chủ yếu là nhờ dơi. Giai đoạn 3-4 tuần thời tiết khô hạn là điều kiện cần thiết để kích thích hoa phát triển.

Thời gian là một tháng kể từ khi có chồi hoa đến khi hoa nở. Mỗi hoa có 5 đài và 5 cánh. Hoa sầu riêng thường nở từ khoảng 3 giờ chiều đến nửa đêm. Màu sắc của hoa phù hợp với màu sắc của phần thịt quả [21].

SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 11 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh Cuống quả sầu riêng thường rũ xuống. Chiều rộng và chiều dài của quả từ khoảng 175-200 mm và đôi khi có thể dài tới 400 mm [20]. Sầu riêng có thể có trái sau khi trồng 4 tới 5 năm.

Quả hình thành trong khoảng từ 85-150 ngày sau khi hoa thụ phấn. Quả có hình trứng hay hình trứng thuôn dài, gần hình tròn với kích thước trung bình. Trọng lượng quả thường dao động từ 2-5 kg và cũng có thể nặng đến 8 kg. Quả có thể mọc trên thân cây hay cành cây.

Bên ngoài có lớp vỏ cứng, dày với gai chóp nhọn có thể dài tới 20 mm, gai quả từ màu xanh đến màu vàng nâu [17, 18]. Gai quả sầu riêng Phần thịt quả bắt đầu hình thành 4 tuần sau khi hoa thụ phấn, bắt đầu như một tấm vải trắng sau đó bao bọc toàn bộ hạt. Phần thịt quả với mùi đặc trưng tùy cảm nhận mà mùi có thể là thơm hay khó chịu. Mùi mạnh này có thể được phát hiện trong vòng bán kính nửa dặm [18].

Phần thịt quả sầu riêng SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 12 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh Phần ăn được của quả chỉ chiếm khoảng 15-30 %. Do vậy sẽ có tới 70-85 % quả bị thải bỏ nếu không được xử lý đúng cách điều này có thể sẽ trở thành một vấn nạn môi trường [14]. Sầu riêng từ cây ở độ tuổi 50, 60 năm và nhiều hơn nữa có chất lượng cao hơn về hương vị, mùi thơm, và kết cấu quả [18].

Phân bố Sầu riêng là loài cây nhiệt đới chủ yếu được trồng ở Sri Lanka, miền Nam Ấn Độ, Nam Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Borneo, Mindanao (Philippines) và New Guinea. Thái Lan là nước sản xuất thương mại lớn nhất (sản xuất 927194 tấn vào năm 1999, với khoảng 137649 ha trồng), tiếp theo là Indonesia và bán đảo Malaysia. Quả được đánh giá cao tại các thị trường Đông Nam Á [18, 28]. Ở nước ta sầu riêng được trồng đầu tiên tại Tân Quy (Biên Hòa) sau đó bắt đầu lan rộng ra những vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nguyên [32].

Giá trị dinh dưỡng Trái sầu riêng có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Phân tích trong 100 gam múi có: nước (64,10 gam), năng lượng (153 kcal), protein (2,70 gam), kali (70 mg), natri (40 mg), cacbon hiđrat (27,90 gam), canxi (40 mg), lân (44 mg), sắt (1,90 mg), vitanmin C (23,30 mg) [33], Vitamin B1 (0,10 mg), Vitamin B2 (0,13 mg), Niacin (0 mg), Caroten (150 μg ), Fibre (0,90 g), Retinol (25 μg ) [28]. Quả sầu riêng có nhiều chất bổ nên dùng để phục hồi sức khỏe cho người mới ốm dậy rất tốt, có tính tráng dương, lọc máu và trừ giun sán,… [23]. Những người có huyết áp cao hoặc phụ nữ mang thai được khuyên không nên ăn sầu riêng [18] SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 13 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Phan Thị Hoàng Oanh 1. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh Sầu riêng là cây nhiệt đới điển hình, sinh trưởng và phát triển tốt nhất trong đất màu mỡ, độ ẩm dồi dào, đất sâu với chất hữu cơ dồi dào, có khả năng thoát nước tốt, gần nguồn nước tưới và độ pH từ 6-7 như đất sét, đất đỏ bazan, đá granit,… [18, 28]. Lượng mưa yêu cầu hàng năm từ 1500 đến 3000 mm mưa cũng phân bố đều quanh năm, mùa khô không quá 3 tháng, đặc biệt là không mưa khi trái già-chín tốt nhất là trong vòng 16° bắc và phía nam của đường xích đạo [18]. Nhiệt độ: 25 -30oC phân bố đều và nên có đủ ánh sáng mặt trời để cây phát triển mạnh [28].

Vỏ quả sầu riêng Là phần bỏ đi từ quả sầu riêng. Trong một quả sầu riêng phần vỏ quả chiếm tới 70- 85% khối lượng quả [14]. Vỏ quả sầu riêng 1. Công dụng của vỏ quả sầu riêng Vỏ quả sầu riêng tuy là phần bỏ đi của quả nhưng lại có rất nhiều công dụng đáng kinh ngạc: - Chữa bệnh: Theo Đông y, vỏ quả sầu riêng có vị đắng, tính ấm, có tác dụng ích khí tiêu thực, cầm mồ hôi, làm ấm phổi để chữa ho, thường được dùng làm thuốc bổ SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 14 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.

Phan Thị Hoàng Oanh khí, chữa đầy bụng, khó tiêu, ho do hàn, cảm sốt. Ngày dùng 15-20 gam lá và rễ, thái nhỏ nấu nước uống [16, 18]. - Trong phân tích xử lý nước thải: Cũng được ứng dụng rất nhiều trong việc chiết tách làm vật liệu hấp phụ: hấp phụ các kim loại nặng [5, 7, 13] hay vỏ sầu riêng nếu được bổ sung các axit béo cũng có thể giữ lại hiệu quả ban đầu của nó, để hấp phụ dầu tràn trong nước [20, 22]. Thành phần hóa học của vỏ sầu riêng Trong vỏ quả sầu riêng có ba thành phần cơ bản là xenlulozơ (30,92%); hemixenlulozơ (17,99%) và lignin (7,69%) [14].

Cấu trúc trong thành tế bào 1. Xenlulozơ Xenlulozơ: Là một polime hợp thành từ các mắc xích β-glucozơ nối với nhau bởi các liên kết β-1,4-glicozit, phân tử xenlulozơ không phân nhánh, không xoắn. SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 15 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh Hình 1.

Cấu trúc của xenlulozơ Hemixenlulozơ: Về cơ bản, hemixenlulozơ là polisaccarit phức tạp giống như xenlulozơ, nhưng có số lượng mắt xích nhỏ hơn nên khối lượng phân tử nhỏ hơn xenlulozơ. Hemixenlulozơ thường bao gồm nhiều loại mắt xích khác nhau và có chứa các nhóm thế khác như axetyl và metyl. Vai trò của hemixenlulozơ là để kết nối các sợi lignin và sợi xenlulozơ,. Cấu trúc của hemixenlulozơ - Tính chất vật lý: Xenlulozơ là chất rắn hình sợi, màu trắng, không mùi, không vị.

Có tính bền vững cơ học cao, chịu được nhiệt độ đến 200oC mà không bị phân hủy. Tỷ trọng lúc khô là 1,45; khi khô xenlulozơ không tan trong nước và các dung môi hữu cơ nhưng tan trong dung dịch Schweizer (dung dịch Cu(OH) 2 tan trong amoniac NH 3 ), axit vô cơ mạnh SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 16 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh như: HCl, HNO 3 ,. - Tính chất hóa học: + Phản ứng thủy phân: Xenlulozơ được cấu tạo bởi các mắt xích β-D-glucozơ liên kết với nhau bằng liên kết 1,4-glucozit, do vậy liên kết này thường không bền.

Đun nóng xenlulozơ trong dung dịch axit vô cơ đặc thu được glucozơ. Phương trình phản ứng: H+, t0 (C6H10O5)n + nH2O nC6H12O6 + Phản ứng với axit vô cơ: Đun nóng xenlulozơ trong hỗn hợp axit nitric đặc và axit sunfuric đặc thu được xenlulozơtrinitrat. Phương trình phản ứng: H2SO4đặc, t0 [C6H7O2(OH)3]n + 3nHNO3đặc [C6H7O2(ONO2)3]n + 3nH2O Xenlulozơ trong tự nhiên là thành phần chủ yếu tạo nên các vách tế bào thực vật, tạo nên bộ khung của cây [10, 25, 36]. Lignin Lignin: Được xem như là bức tường của xenlulozơ, giữ vai trò là chất kết nối giữa xenlulozơ và hemixenlulozơ, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn đối với cây và chống thấm nước.

Lignin có cấu trúc phức tạp, là một polyphenol có mạng không gian mở, cấu trúc đơn vị cơ bản là phenylpropan, dễ bị hòa tan trong dung dịch axit hoặc kiềm. Thành phần thay đổi theo từng loại gỗ, tuổi cây hoặc vị trí của nó trong gỗ. SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 17 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh Hình 1.

Cấu trúc của lignin Lignin có khả năng mềm đi dưới tác dụng của nhiệt độ và bị hòa tan trong một số hợp chất hóa học. Trong gỗ, bản thân lignin có màu trắng. Đơn vị cấu trúc cơ bản là phenylpropan. Từ đơn vị cơ bản là phenylpropan, các cấu trúc điển hình được đề nghị là Syringylpropan (S), Parahydroxylphenylpropan (P) và Guaicylpropan (G) [10, 36].

SVTH: Phạm Thị Thanh Huyền 18 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Phan Thị Hoàng Oanh CH2OH CH2OH CH2OH CH CH CH HC HC HC H3CO H3CO OCH3 OH OH OH trans-Coniferyl alcohol trans-Sinapyl alcohol trans-p-Coumaryl alcohol (dạng Guaiaacyl - G) (dạng Syringgyl – S) (dạng Parahyđroxylphenyl – P) Hình 1. Các dạng cấu trúc điển hình của lignin 1. Chiết tách xenlulozơ từ vỏ quả sầu riêng Sử dụng xenlulozơ từ vỏ quả sầu riêng thực chất là quá trình loại bỏ lignin.

Để loại bỏ lignin từ vỏ quả sầu riêng, ta thực hiện quá trình nấu với tác chất nấu thích hợp. Tác chất nấu có tác dụng thúc đẩy quá trình nấu và làm cho việc tách xenlulozơ diễn ra dễ dàng với hiệu suất cao hơn. Để tách xenlulozơ thì trong thực tế người ta sử dụng rất nhiều tác chất nấu khác nhau. Trong khóa luận này chúng tôi sử dụng tác chất nấu là NaOH và H 2 SO 4 do cho hiệu suất loại lignin cao [5, 8] và sau đó chúng tôi tiến hành so sánh hiệu quả của hai phương pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ về điều chế và ứng dụng vật liệu hấp thụ từ vỏ sầu riêng" của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền, dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Thị Hoàng Oanh tại Trường Đại Học Sư Phạm TP.HCM, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển vật liệu hấp phụ từ vỏ sầu riêng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình điều chế mà còn chỉ ra những ứng dụng tiềm năng của vật liệu này trong việc xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trong việc hấp phụ các chất độc hại. Điều này mang lại lợi ích lớn cho các nhà nghiên cứu và kỹ sư trong lĩnh vực môi trường và vật liệu.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến vật liệu và ứng dụng của chúng, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính, nơi khám phá các ứng dụng của vật liệu carbon trong xử lý môi trường. Bên cạnh đó, bài viết Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu vật liệu khung hữu cơ kim loại UIO66 và khả năng hấp phụ asen trong môi trường nước cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về khả năng hấp phụ của các vật liệu khác. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về ứng dụng vật liệu nano oxit sắt từ trong xử lý crom vi trong nước thải sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các công nghệ tiên tiến trong xử lý nước thải. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về vật liệu hấp phụ và ứng dụng của chúng trong môi trường.