ĐẶT VẤN ĐỀ Xấu hổ (Mimosa pudica L) thuộc loại cây thân thảo, sống hàng năm. Xấu hổ phân bố ở nhiều nơi trên thế giới như Việt Nam, Ấn Độ, một số nước châu Phi, châu Mỹ. Ở Việt Nam, Xấu hổ phân bố ở nhiều vùng trên nước ta và được sử dụng trong y học cổ truyền, chủ yếu với tác dụng an thần [10]. Theo một số nghiên cứu của y học hiên đại, Xấu hổ có tác dụng chống co thắt phế quản, chống viêm, hạ huyết áp, hạ đường huyết …[22].
Một trong số các tác dụng được nhóm nghiên cứu hướng đến là tác dụng hỗ trợ trong điều trị hen phế quản. Các kết quả nghiên cứu cho thấy flavonoid là thành phần chính trong cây Xấu hổ. Flavonoid cũng là một nhóm hợp chất có nhiều tác dụng sinh học, trong đó tác dụng chống oxy hóa, chống viêm là những tác dụng đã được chứng minh có vai trò quan trọng trong dự phòng và điều trị hen phế quản. Một số hợp chất flavonoid có mặt trong Xấu hổ như luteolin, isoorientin… cho thấy có tác dụng trên một số mô hình hen phế quản thực nghiệm [30],[36].
Do đó, flavonoid được lựa chọn là nhóm chất đánh dấu trong xây dựng tiêu chuẩn dược liệu Xấu hổ. Nghiên cứu tối ưu hóa chiết xuất theo hàm lượng flavonoid cho phép điều chế cao đặc Xấu hổ có hàm lượng flavonoid cao. Đây là dạng bào chế trung gian cho các chế phẩm có thành phần dược liệu này. Để đảm bảo hiệu quả và độ an toàn của chế phẩm, cần có các tiêu chuẩn chất lượng cho cao đặc Xấu hổ.
Đây là cơ sở để đề tài “Xây dựng chỉ tiêu định tính và định lượng cao đặc Xấu hổ” được thực hiện với 2 mục tiêu sau: 1. Xây dựng một số chỉ tiêu định tính cao đặc Xấu hổ: Cảm quan, định tính bằng phản ứng hóa học, định tính bằng sắc kí lớp mỏng. Xây dựng một số chỉ tiêu định lượng cao đặc Xấu hổ: Định lượng flavonoid toàn phần, định lượng luteolin trong cao đặc Xấu hổ. Tổng quan về cây Xấu hổ (Mimosa pudica L.
Vị trí phân loại của Mimosa pudica L. Cây Xấu hổ còn có tên gọi khác là cây Mắc cỡ, cây Thẹn, cây Trinh nữ, Hàm tu thảo[4]. Theo hệ thống phân loại của A.Takhtajan[16], Mimosa pudica L. có vị trí phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa Hồng (Rosidae) Bộ: Đậu (Fabales) Họ: Đậu (Fabaceae) Phân họ: Trinh nữ (Mimosoideae) Chi: Mimosa Loài: Mimosa pudica L.
Đặc điểm thực vật, phân bố, sinh thái 1. Đặc điểm thực vật Cây nhỏ, mọc hoang lòa xòa ở ven đường cái, thân có gai hình móc. Lá 2 lần kép lông chim, nhưng cuống phụ xếp như hình chân vịt; khẽ động vào lá cụp xuống. Cuống chung gầy, mang nhiều lông, dài 4cm, cuống phụ 2 đôi, có lông trắng cứng.
Lá chét 15- 20 đôi nhỏ, gần như không có cuống [15], [10]. Hoa màu tím đỏ, tụ thành hình đầu trái xoan. Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm rất nhiều hoa nhỏ xếp thành đấu tròn, màu tím hồng; đài nhỏ hình đấu; tràng 4 cánh dính nhau ở nửa dưới; nhị 4, rất mảnh, bầu 4 noãn. Quả giáp dài 2cm, rộng 3mm, tụ thành hình ngôi sao, ở phần giữa các hạt quả hẹp lại, có lông cứng ở mép.
Hạt gần như hình trái xoan, dài 2mm, rộng 1,5mm. Mùa hoa quả: tháng 6-8 [15], [10]. Phân bố Xấu hổ có nguồn gốc từ Nam Mỹ và Trung Mỹ sau đó du nhập sang vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Ấn Độ, Nam Châu Phi, khu vực Đông Nam Á, Hàn Quốc, Trung Quốc… Ở Việt Nam, Xấu hổ phát triển chủ yếu mọc dại ở khắp nơi, thường thấy ở ven đê…[15]. Bộ phận dùng, thu hái, chế biến 2 Dùng toàn cây hoặc lá và rễ cây Xấu hổ, thu hái quanh năm, rửa sạch đất cát, thái mỏng, phơi hoặc sấy khô [15].
Thành phần hóa học của cây Xấu hổ Mimosa pudica L 1. Các hợp chất hữu cơ Một số nghiên cứu về thành phần hóa học của Xấu hổ cho thấy sự hiện diện của các thành phần như sterol, flavonoid, glycosid, alkaloid, phenol, tanin, saponin [6], [12], [33], [17], [21]. Dưới đây trình bày cấu trúc một số hợp chất được phân lập từ Xấu hổ. - Các hợp chất flavonoid: Các hợp chất flavonol: Quercetin [12] Fisetin [37] Các hợp chất flavon: Luteolin [6] 7,3′,4′-trihydroxy-3,8- dimethoxyflavon [21] COOCH3 OCH3 H3COOC O COOCH3 OCH3 O 7,3′,4′-Triacetoxy-3,8-dimethoxyflavon[21] Apigenin [32] 3 Cấu trúc glycosid 5,7,3′,4′-tetrahydroxy-6-C-[α-L- 7,8,3′,4′-tetrahydroxyl-6-C-[α-L- rhamnopyranosyl-(1→2)]-β-D-glucopyranosyl rhamnopyranosyl-(1→2)]-β-D- flavon [34] glucopyranosyl flavon [34] 5,7,4′-trihydroxyl-8-C-[α-L-rhamnopyranosyl- 6,7,3′,4′-tetrahydroxyl-8-C-[α-L- (1→2)]-β-D-glucopyranosyl flavon [34] rhamnopyranosyl-(1→2)]-β-D- glucopyranosyl flavon [35] 5,7,3′,4′-tetrahydroxy-8-C-[β-D-apiose- 5,7,3′,4′-tetrahydroxy-6-C-[β-D-apiose- (1→4)]-β-D-glycopyranosyl flavon [35] (1→4)]-β-D-glycopyranosyl flavon [32] 4 OH OH OH O OH HO HO O HO OH O Orientin [32] Isoorientin [6] Vitexin [32] Isovitexin [32] Echinaticin [6] Hợp chất flavanon: Naringenin [37] 5 Hợp chất chalcon: O CH3 HO O OH 2’-O-methylisoliquiritigenin [12] - Các hợp chất phenol khác: 4-(24’-methoxy-2,4’-methyl-1’-oxo- Acid p-coumaric [12] 5’-n-propyl-tetracosanyl)-phenol [18] Acid caffeic [12] Ethyl gallat [12] Acid p-hydroxy benzoic [12] Acid gallic [12] 6 Acid chlorogenic[18] - Các hợp chất sterol: H3C CH3 H3C CH3 CH3 H CH3 H H HO H β-sitosterol [17] α-spinasterol[17, 30], [17] Stigmastanol[17, 30], [17] Acid betulinic [17, 30], [17] 7 H3C H3C CH3 CH3 CH3 OH H H3C CH3 CH3 CH3 CH3 HO H3C O H H CH3 HO O H OH CH3 HO 24-dimethylcholest-7-en-3β-ol-3β-D- Ergosterol[17] glycosid [17] - Một số hợp chất hữu cơ khác: Các acid hữu cơ: Acid jasmonic[12] Acid abscisic (hormon thực vật)[12] Crocetin[12] Crocin R=β-D-gentiobiosyl[12] Hợp chất alcaloid: O O H H N O NH2 O Mimosin [10] 1.
Các hợp chất vô cơ Lá và quả Xấu hổ có hàm lượng selen cao. Xấu hổ mọc rải rác khắp nơi và có hàm lượng selen khác nhau ở các tỉnh khác nhau ở Việt Nam. Một nghiên cứu khảo sát hàm lượng 8 selen cho thấy mẫu Xấu hổ Mimosa pudica L. thu hái ở Đà Nẵng có hàm lượng selen là lớn nhất, những mẫu thu hái ở Vĩnh Phúc, Hải Phòng có hàm lượng selen ít hơn những nơi khác [3].
Đặc biệt, kết quả nghiên cứu mẫu Xấu hổ được thu hái ở Đồng Nai không cho thấy sự có mặt của hợp chất selen [12]. Một số nguyên tố vô cơ khác cũng được xác định là có trong cả lá, thân và rễ Xấu hổ: Al, Si, Mg, Ca, Fe, Mn, Ti, Cu, Pb, Na [10],[12]. Sử dụng loài Mimosa pudica L trong y học cổ truyền Theo YHCT, Xấu hổ có vị ngọt, se, tính hơi hàn, ít độc, có tác dụng an thần, làm dịu cơn đau, hạ nhiệt, tiêu viêm, lợi tiểu, long đờm, chống ho [10]. Trên thế giới, Xấu hổ đã được dùng với nhiều tác dụng khác nhau: có đặc tính chống hen suyễn, kích thích tình dục, giảm đau và chống trầm cảm.
pudica được biết là có đặc tính an thần và đã được sử dụng theo truyền thống trong điều trị các bệnh khác nhau bao gồm tiêu chảy, kiết lỵ, mất ngủ và các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục khác nhau [30],[40]. Ở nước ta, Xấu hổ có mặt trong nhiều bài thuốc dân gian và được dùng trong một số trường hợp như: suy nhược thần kinh, mất ngủ, ù tai, viêm gan, sỏi tiết niệu, viêm kết mạc cấp, huyết áp cao (không dùng cho phụ nữ có thai), dùng ngoài điều trị viêm mủ da, chấn thương, dùng tươi giã đắp. Rễ Xấu hổ được dùng chữa đau nhức xương khớp, chân tay tê bại và hỗ trợ điều trị viêm khí quản mạn tính. Hạt dùng trị hen suyễn và gây nôn [15], [10].
Tác dụng sinh học của cây Xấu hổ Mimosa pudica L và các hợp chất phân lập từ Xấu hổ Nhiều nghiên cứu về tác dụng sinh học đã được thử nghiệm trên Xấu hổ. Các thí nghiệm đã chỉ ra Xấu hổ có một số tác dụng như: làm lành vết thương, chống co giật, hạ đường huyết, kháng khuẩn, kháng virus [30] ; dịch chiết nước lá Xấu hổ có tác dụng chống trầm cảm tương tự như thuốc chống trầm cảm ba vòng và tác dụng chống co giật do pentylenetetrazol và strychnin gây ra [30],[36]. Theo hướng điều trị hen phế quản, nhóm nghiên cứu đã đánh giá tác dụng của dịch chiết nước và dịch chiết cồn cây Xấu đều có tác dụng ức chế mạnh đáp ứng co thắt phế quản gây ra bởi histamin. Tác dụng này tương đương diphenhydramin và aminophyllin [5].
Về tác dụng chống viêm trên mô hình gây viêm phổi bằng Sephacryl S-200, dịch chiết nước Xấu hổ ức chế đáng kể tình trạng phù phổi và sự xâm nhập của tổng số tế bào lympho và bạch cầu ái toan vào dịch rửa phế quản (BALF) và các mô phổi [1]. Cao chiết Xấu hổ hỗ trợ điều trị đái tháo đường trên mô hình gây đái tháo 9 đường trên chuột nhắt trắng bằng streptozotocin thông qua ức chế enzym α- glycosidase [11]. Nhiều hợp chất flavonoid có mặt trong Xấu hổ như luteolin, isoorientin, apigenin… đã được chứng minh có tác dụng điều trị hen phế quản ở nhiều nghiên cứu. Trong đó, một nghiên cứu được thực hiện tại Hàn Quốc cho thấy luteolin liều có tác dụng chống dị ứng trên mô hình hen suyễn và viêm mũi dị ứng [41].
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Trung Quốc cho thấy luteolin làm giảm triệu chứng của bệnh hen phế quản bằng con đường giảm giải phóng IL-36γ ức chế mitogen (MAPK) [44]. Luteolin làm giảm giải phóng các cytokin gây viêm (IL-4, IL-5 và IL-13), ức chế quá trình tự thực bào thông qua ức chế phức hợp Beclin1- PI3KC3 [38]. Isoorientin đã được các nhà khoa học Trung Quốc chứng minh có tác dụng làm giảm bệnh hen suyễn bằng cách ức chế đường truyền tín hiệu Nrf2/HO-1 and NF-κB [39]. Đồng thời, apigenin cũng được chứng minh ngăn cản sự tiến triển của bệnh hen phế quản thông qua con đường ức chế tế bào Th17, ức chế bạch cầu ái toan và tăng nồng độ interleukin IL-6, IL-17A, TNF-α [31].
Apigenin làm giảm phản ứng dị ứng thông qua ức chế các biểu hiện của phản ứng Th2 (IgE, histamine, IL, GATA3, STAT6, SOCS1 và NF-κB) và kích hoạt phản ứng Th1 (IFN-γ và tế bào T) [29]. Một số quy định về chất lượng của cao thuốc 1. Phân loại cao chiết dược liệu Định nghĩa: Theo Dược điển Việt Nam V[8]: cao thuốc là chế phẩm được chế bằng cách cô hoăc sấy đến thể chất quy định các dịch chiết thu được từ dược liệu thực vật hay động vật với các dung môi thích hợp. Theo dược điển Châu Âu [20]: cao dược liệu là các chế phẩm ở dạng lỏng (cao lỏng), bán rắn (cao mềm và nhựa dầu) hoặc khô (cao khô) thu được từ dược liệu sử dụng dung môi thích hợp.
Phân loại: + Theo thể chất cao, cao thuốc được chia làm 3 loại. Theo quy định của Dược điển Việt Nam V [8]: Cao lỏng: Là chất lỏng hơi sánh, có mùi vị đặc trưng của dược liệu sử dụng, trong đó cồn và nước đóng vai trò dung môi chính (hay chất bảo quản hay cả hai).