MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một Quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [21]. Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh. Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong mỗi dân tộc, những tri thức về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con cháu đời sau, từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Trải qua thời gian, các bài thuốc có tính độc đáo và trở nên thông dụng trong việc chăm sóc sức khỏe người dân của cộng đồng mình và những dân tộc xung quanh. Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn tri thức y học dân gian được tiến hành và mang lại giá trị khoa học và thực tiễn. Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở miền núi, đang có nguy cơ bị tàn phá dẫn đến tuyệt chủng do lạm dụng khai thác quá nhiều và vấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, quá trình đô thị hóa hay tác động của kinh tế thị trường,… sự suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là không thể tránh khỏi. Cùng với đó, những tri thức dân gian của các dân tộc dùng để chữa bệnh cũng đang bị mất dần, những ông lang, bà mế đã già và mất đi, họ mang theo cả những kiến thức về cây thuốc và những bài thuốc hay.
Thế hệ trẻ ít người tiếp thu những kiến thức mang tính bản địa mà học theo những cái mới, cái hiện đại đã khiến cho những cây thuốc quý, bài thuốc hay bị quên lãng. Vì vậy, 2 cần phải có những biện pháp tiến hành điều tra, tư liệu hóa thực trạng sử dụng cây thuốc của các dân tộc và tri thức bản địa về cây cỏ làm thuốc để xây dựng các giải pháp quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và bảo tồn những tri thức y học dân tộc. Thái Nguyên là một vùng đất giàu tài nguyên, khí hậu nhiệt đới ẩm, có thảm thực vật rất đa dạng, phong phú và là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống như: Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao,… Mỗi dân tộc lại mang bản sắc và kinh nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc rất đa dạng. Xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một xã trung du miền núi có diện tích rừng che phủ khá lớn, có một phần diện tích Vườn quốc gia Tam Đảo nằm trên địa bàn xã, nên hệ động thực vật phong phú, nhất là thực vật.
Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên của xã hiện nay đã bị thu hẹp đáng kể, số lượng các loài cây thuốc bị cạn kiệt dần do khai thác quá nhiều với phương thức khai thác tận diệt, từ cắt cành, nhổ cây đến đào gốc rễ, do đốt nương làm rẫy trồng chè. Để góp phần vào công tác bảo tồn vốn tri thức dân gian và nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Hoàng Nông, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loại cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao được cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng trong phòng và trị bệnh.
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở khu vực nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghía khoa học - Xác định được tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị cao tại khu vực nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiến Kết quả của đề tài sẽ là một trong những cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng một số dân tộc thiểu số tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược đã được con người sử dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vấn đang tồn tại và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt chất quý trong các loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn bệnh từ đơn giản hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y như ung thư, bệnh tim, suy thận,. hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm như dịch cúm A H5N1, H1N1,. Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian. Do đó việc gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài thuốc từ thảo dược là việc hết sức cần thiết.
Theo tổ chức y tế thế giới WHO, khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67]. Trong tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu (Nguyễn Hoàng Sơn, 2014) [67]. Vậy, nghiên cứu về các loài cây thuốc là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc và bài thuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới Tổ tiên loài người từ khi xuất hiện đã gắn bó với thiên nhiên, trải qua quá trình đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để sinh tồn. Trong quá trình đó, tổ tiên chúng ta ngay từ khi còn là các tộc người đã sớm phát hiện ra những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm thuốc, đồng thời trong cuộc 5 sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra những bài thuốc và phương pháp chữa bệnh.000 năm trước đây, bằng chứng về sự tồn tại của các loài thực vật được sử dụng cho mục đích chữa bệnh đã tìm thấy trong ngôi mộ cổ của người Neanderthal có 8 loài cây thuốc (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65]. Đóng góp quan trọng về mô tả cây thuốc đã được thực hiện bởi Dioscorides, một bác sĩ trong quân đội La Mã đã viết “De materia medica” trong khoảng những năm tác giả 60 tuổi. Bộ sách này được viết bằng tiếng Hy Lạp mô tả nguồn gốc, đặc điểm và công dụng của khoảng 500 loài thực vật và quy trình sử dụng 1.000 loại thuốc đơn giản (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, 2016) [65].
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên thế giới: Ở Châu Á: Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực khác nhau như: Sanjay Kr Uniyal và cộng sự (2006) [55] khi nghiên cứu về sử dụng kinh nghiệm sử dụng cây thuốc giữa các cộng đồng của vùng Chho Bhangal, phía Tây dãy Hymalaya đã tìm thấy 35 loài thực vật thường được người dân địa phương sử dụng trong việc chữa các bệnh khác nhau. Yanchun Liu và cộng sự (2009) [61], đã ghi nhận và thu thập 68 loài cây thuốc trong 64 chi thuộc 40 họ được người Tây Tạng sử dụng để chữa các bệnh khác nhau. Manju Panghal và cộng sự (2010) [45] khi nghiên cứu kiến thức bản địa về cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này 6 cây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họ Fabaceae. Arshad Abbasi và cộng sự (2013) [30] khi thẩm định về thực vật học và các giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học của Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38 chi và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau và tiêu thụ.
Mi-Jang Song và cộng sự (2013) [49] khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn Quốc đã tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụng các loài cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại. Auemporn Junsongduang và cộng sự (2013) [31] nghiên cứu về cây thuốc từ nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra 365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng nhiều nhất. Naveed Akhtar và cộng sự (2013) [53] nghiên cứu về đa dạng và sử dụng cây thuốc dân tộc trong khu vực Swat, Bắc Pakistan đã ghi nhận 106 loài thực vật thuộc 54 họ được người dân bản địa sử dụng để điều trị bệnh. Ong và Young - Dong Kim (2014) [42] nghiên cứu về thực vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản địa Ati Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu thuộc 55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh.