ĐẶT VẤN ĐỀ Khe hở môi - vòm miệng (KHM - VM) là dị tật bẩm sinh thường gặp nhất ở vùng đầu mặt cổ. Theo Tổ chức sức khỏe thế giới, tỉ lệ bệnh nhân có KHM - VM ước tính 1/500 trẻ em mới sinh ra. Tỉ lệ này thay đổi tùy theo vùng và chủng tộc, thấp ở người da đen nhưng cao ở người Nhật, người Trung Quốc và người Mỹ gốc Ấn. Ở Ấn Độ, tỉ lệ dị tật khe hở môi - vòm miệng là 1: 800 trẻ em sinh ra [138].
Tại Việt Nam, tỉ lệ trẻ bị dị tật KHM - VM từ 1/709 đến 1/1000 [2], [7]. Dị tật bẩm sinh KHM - VM gây thiếu hổng và biến dạng mũi, môi, vòm miệng ảnh hưởng đến sự hình thành mầm răng, mọc răng, rối loạn khớp cắn, ảnh hưởng chức năng nhai, biến dạng tầng giữa và tầng dưới mặt, ảnh hưởng đến phát âm, thẩm mỹ và tâm lý người bệnh. Do vậy, những người mắc phải dị tật này luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti, xa lánh cộng đồng [65], [94]. Điều trị dị tật KHM - VM là một quá trình lâu dài, từ khi trẻ còn trong bụng mẹ đến khi trưởng thành với sự phối hợp của nhiều chuyên gia và các biện pháp kỹ thuật khác nhau bao gồm: tư vấn tâm lý, phẫu thuật tạo hình đóng kín khe hở, phẫu thuật ghép xương khe hở huyệt răng, chỉnh nha, phục hình răng,…[101], [106].
Phương pháp implant tích hợp xương đã được phát triển bởi giáo sư Brånemark vào những năm 1960 và ngày nay đã trở thành phương thức điều trị thường qui để phục hồi các răng mất cũng như tình trạng thiếu răng bẩm sinh ở bệnh nhân có khe hở môi - vòm miệng. Răng trên implant là giải pháp lí tưởng khắc phục những nhược điểm của phục hình răng cổ điển, đồng thời đem lại thẩm mỹ và chức năng gần như răng thật mà không phá hủy các răng còn nguyên vẹn để làm trụ cầu [88]. 2 Trên thế giới, các tác giả như Verdi(1991) [139],Kearns (1997) [68],…đã áp dụng thành công kỹ thuật implant cho bệnh nhân KHM-VM. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trên bệnh nhân KHM-VM chủ yếu đánh giá dịch tễ học và kỹ thuật đóng KHM-VM[1], [3], [4], [5],[7],một số ít nghiên cứu ghép xương khe hở huyệt răngnhư nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà (2009) [6];các nghiên cứucấy ghép implant chỉ được thực hiện trên bệnh nhân bình thường không có dị tật KHM-VM như công trình của Tạ Anh Tuấn (2007) [8].
Như vậy, cấy ghép implant trên vùng xương ghépở khe hở huyệt răng và phục hình răng trên implant cho bệnh nhân KHM-VM là vấn đề chưa được nghiên cứutoàn diện tại Việt Nam. Trong khi đó, bệnh nhân thường đến điều trị rất muộn [1] nên bỏ mất cơ hội được ghép xương khe hở huyệt răngvà chỉnh nha để đóng khoảng trống do răng bị thiếu.Mặc khác, nhu cầu điều trị là rất lớn vì hầu hết bệnh nhân KHM-VM từ trước đến nay chưa từng được phẫu thuật ghép xương khe hở huyệt răngvà phục hình răng. Về khía cạnh xã hội, bệnh nhân KHM-VM là bệnh nhân đặc biệt nên điều trị bệnh lí cũng đồng thời giải quyết vấn đề tâm lý, mang ý nghĩa nhân đạo cao vì đem lại sự tự tin, xóa bỏ mặc cảm, tự ti trong mỗi cá nhân người bệnh cũng như thân nhân của họ. Với mong muốn triển khai kỹ thuật này và thực hiện nghiên cứu một cáchkhoa học, có hệ thống nhằm đánh giá kết quả điều trị, rút ra khuyến cáo về qui trình áp dụng implant cho bệnh nhân KHM-VM tại Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cấy ghép implant ở bệnh nhân đã cấy ghép xương hàm sau phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ”với các mục tiêu sau: 1.
Đánh giá tình trạng xƣơng hàm sau ghép xƣơng khe hở huyệt răng. Đánh giá kết quả cấy ghép Implant. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHE HỞ MÔI VÒM MIỆNG 1.
Phân loại khe hở môi vòm miệng Theo Syed Nasir Shah (2012) [126], về mặt phân loại KHM-VM, một trong những phân loại đầu tiên có lẽ là của Davis và Ritchie vào năm 1922, ông chia KHM-VM thành 3 nhóm: Nhóm 1: Khe hở trước cung răng:khe hởmột bên, hai bên và khe hở ở giữa. Nhóm 2: Khe hở sau cung răng: chỉ liên quan đến vòm miệng mềm, vòm miệng cứng và khe hở thể màng. Nhóm 3: Khe hở cung răng:khe hở một bên, hai bên và ở giữa Sau đó, vào năm 1931, Veau chia KHM-VM gồm 4 loại: Loại A: Khe hở vòm miệng mềm Loại B: Khe hở vòm miệng cứng và mềm nhưng chưa vượt quá lỗ cửa, chỉ liên quan đến vòm miệng thứ phát. Loại C: Khe hở toàn bộ một bên: kéo dài từ lưỡi gà đến lỗ cửa, tiếp tục kéo dài sang một bên qua cung răng ở vị trí răng cửa bên.
Loại D: Khe hở toàn bộ 2 bên: kéo dài từ lưỡi gà đến lỗ cửa, tiếp tục kéo dài sang 2 bên qua cung răng, tạo nên mấu tiền hàm treo vào vách ngăn mũi. Năm 1958, Kernahan và Stark đề xuất một phân loại mới và được nhiều tác giả chấp nhận vì phù hợp về khía cạnh phôi thai học, lấy lỗ cửa làm ranh giới giữa vòm miệng tiên phát và thứ phát.Bao gồm các loại sau: Khe hở tiên phát: là khe hở môi và khe hở huyệt răng (trước lỗ cửa).Khe hở thứ phát:là khe hở vòm miệng bắt đầu từ sau lỗ răng cửa, gồm khe hở vòm miệng mềm và vòm miệng cứng.Khe hở phối hợp môi - vòm miệng tiên phát và thứ phát: Loại 1: khe hở môi không toàn bộ và khe hở vòm miệng không toàn bộ;Loại 4 2: khe hở môi và khe hở vòm miệng toàn bộ và cuối cùng là khe hở môi và khe hở vòm miệng hai bên. Sau đó năm 1971, Kernahan biến đổi phân loại năm 1958, vẫn lấy lỗ cửa làm điểm mốc và đưa ra sơ đồ hình chữ Y rất tiện lợi trong điều tra dịch tễ khe hở môi vòm miệng.Tuy nhiên, nó có một số khuyết điểm vì không thể mô tảmức độ khe hở môi, mức độ nhô tiền hàm, độ xẹp cung hàm, mức độ đóng không hoàn toàn của vòm hầu. Tiếp theo đó, năm 1973, Elsahy [40] biến đổi sơ đồ chữ Y của Kernahan và mô tả mức độ khe hở môi, độ xẹp cung hàm, sự di chuyển các phân đoạn vòm miệng, trạng thái khép kín của vòm hầu và mức độ nhô của vùng tiền hàm.
Năm 1977, Millard tiếp tục sửa đổi phân loại Elsahy và sơ đồ chữ Y bằng cách thêm hình tam giác ngược 1 và 6 đại diện cho cánh mũi trái và phải nằm trên các tam giác 2 và 7 đại diện cho sàn mũi (Phụ lục 4). Đến năm 1991, Friedman là người đầu tiên mô tả mức độ nghiêm trọng của biến dạng về mặt giải phẫu và chức năng bằng cách biến đổi sơ đồ chữ Y của Millard. Ông cho điểm số từ 0 đến 5 để thể hiện mức độ nghiêm trọng của khe hở [49]. Năm 1993, Schwartz giới thiệu cách phân loại KHM-VM dựa trên sơ đồ chữ Y của Kernahan bằng hệ thống RPL (Right-Patale-Left).
Ông sử dụng ba con số từ 1 đến 3, con số đầu tiên (R) đại diện cho phân đoạn 1,2,3, con số thứ 2 (P) đại diện cho phân đoạn 7,8,9 và con số thứ 3 (L) đại diện cho phân đoạn 4,5,6 trong sơ đồ chữ Y của Kernahan [113]. Theo Posadas (2001) [103], phân loại của Schwartz không mô tả được mức độ phức tạp của khe hở. Posadas cũng chỉ ra hạn chế trong phân loại của Friedman vì không mô tả cụ thể lồi môi, không xem xét đến vòm miệng nguyên phát khi mô tả khe hở toàn bộ, cũng như không mô tả độ rộng của khe hở trong trường hợp có vòm miệng thứ phát. Do vậy, Posadas đề xuất một 5 phân loại khắc phục nhược điểm của các phân loại khác.
Ông mô tả toàn diện khe hở vòm miệng nguyên phát, vòm miệng thứ phát, các yếu tố thẩm mỹ và chức năng liên quan đến mũi, môi, vòm miệngvà khoảng hở được đo và tính bằng đơn vị milimet [103]. Đặc điểmbiến dạng giải phẫu ở bệnh nhân KHM-VM Biến dạng giải phẫu ở bệnh nhân KHM-VM là một phức hợp bao gồm cả mô mềm (mũi, môi, vòm miệng mềm) và mô cứng (răng, xương huyệt răng và vòm miệng cứng). Biến dạng phần mềm 1. Biến dạng mũi- môi - Biến dạng mũi - môi ở bệnh nhân KHM-VM 1 bên: Bệnh nhân KHM-VM 1 bên có sự di lệch về phía xa, xuống dưới và về phía sau của khung xương khiến các bộ phận của mũi và môi ở vào những vị trí bất thường qua hình ảnh 3 chiều.
Hậu quả chân và cánh mũi bên có khe hở bị di lệch về phía xa và xuống dưới, cơ mũi ở sai vị trí. Ngoài ra, áp lực quá mức trên đỉnh mũi và trụ mũi làm rối loạn sự phát triển của sụn vách mũi, kết quả là tạo nên trụ mũi ngắn và đỉnh mũi loe ở bên có khe hở[94]. - Biến dạng mũi - môi ở bệnh nhân KHM-VM 2bên: Biến dạng mũi môi ở bệnh nhân KHM-VM 2 bên có đặc điểm chính là trụ mũi ngắn, đỉnh mũi xẹp, sụn cánh mũi hai bên bị di lệch và nền cánh mũi bị lật ra ngoài do sự phát triển quá mức của tiền hàm. Phân đoạn xương phía sau khe hở di lệch xuống dưới và ra sau nên tất cả các bộ phận của môi và mũi rơi vào những vị trí bất thường, các cơ mũi ở sai vị trí, sụn cánh mũi hai bên được tách ra về phía xa và hướng xuống dưới.
Ngoài ra, áp lực quá mức trên đỉnh mũi và trụ mũi gây rối loạn sự phát triển của sụnvách ngăn. Kết quả là tạo nên trụ mũi ngắn và đỉnh mũi loe[94]. Biến dạng vòm miệng mềm Friedman (1991) [49] chia biến dạng vòm miệng mềm ở bệnh nhân KHM-VM thành 5 mức độ: Độ 0: Không tồn tại khe hở Độ 1: Khe hở lưỡi gà - 1a: Niêm mạc lưỡi gà; 1b: Vách ngăn lưỡi gà; 1c: 2 nhánh lưỡi gà Độ 2: Khe hở dưới niêm mạc vòm miệng mềm Độ 3: Khe hở 1/3 phía sau vòm miệng mềm Độ 4: Khe hở 2/3 phía sau vòm miệng mềm Độ 5: Khe hở hoàn toàn vòm miệng mềm 1. Biến dạng giải phẫu mô cứng 1.
Biến dạng xƣơng hàm trên và xƣơng huyệt răng Ở bệnh nhân KHM-VM 1 bên, xương hàm trên thường nghiêng và ngắn theo chiều dọc (hướng lên trên và về phía khe hở),đường giữa của răng hàm trên cũng thường lệch về phiá khe hở so với đường giữa của mặt. Do hàm trên kém phát triển theo chiều trước sau và chiều ngang nên gây biến dạng tầng mặt giữa, tầng mặt giữa bị lõm và sai khớp cắn (khớp cắn Angle loại III, khớp cắn hở răng cửa).