Đặt vấn đề Xu thế hội nhập hiện nay đã đây mạnh sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa của các quốc gia trên thế giới, hình thành nên nhiều hệ thống nhà máy, xí nghiệp hiện đại với công suất vận hành cao, đồng thời ngày càng thải ra nhiều loại khí thải như Dioxit carbon (CO2), Metan (CH4), Oxit nito (N20), Hydroflurocarbons (HFCs). Cùng với sự khai thác lâm sản quá mức của con người đã dẫn đến những cánh rừng bị tàn phá nghiêm trọng, thành phần thực vật, động vật rừng suy giảm đáng kể so với trước đây. Dé có thé giải quyết van đề trên các nhà khoa học đã đưa ra nhiều ứng dụng Khoa học — Công nghệ, thông tin địa lý, kĩ thuật tiên tiến để quản lý tài nguyên rừng. Việc ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS nghiên cứu về cấu trúc, sinh khối và trữ lượng carbon, giúp giảm thiểu phát thải và ngăn chặn suy thoái rừng.
Trong năm 2021, với nhiều khó khăn, thách thức đặt ra, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch COVID - 19 gây rất nhiều cản trở cho công tác chỉ đạo, sản xuất, kinh doanh của toàn ngành Lâm nghiệp. Tuy nhiên, ngành Lâm nghiệp đã nỗ lực vượt khó, đạt được nhiều kết quả rất ấn tượng. Điều nay có thê thấy qua việc, cả năm 2021, diện tích trồng rừng đạt 277.830 ha, đạt 102,8% kế hoạch năm, tăng 27% so với cùng kỳ. Trồng cây phân tán đạt 98,96 triệu cây, đạt 108,5% so với kế hoạch năm, tăng 13% so với cùng kỳ.
Về tỷ lệ che phủ rừng đạt khoảng 42,02%, tăng 0,01%, tương ứng tăng khoảng 3.300 ha so với năm 2020, đạt mục tiêu kế hoạch đề ra. So với các năm trước, đây là con số có thé thấy tăng về trữ lượng rừng không lớn, nhưng con số này năm 2021 rất có ý nghĩa do toàn ngành đang tiến tới nâng cao chất lượng rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên. Thứ hai là cơ cấu các loại rung, gom: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất sẽ bồ trí phù hợp hơn. Bên cạnh đó, với 3.300 ha rừng tăng lên trong năm 2021 hầu như là tăng về rừng đặc dụng và phòng hộ là chủ yếu.
Cùng với kết quả trên, trong năm 2021, SỐ vu vi pham va dién tích rừng bị thiệt hai cơ bản đều giảm so với năm 2020. Cụ thể, đã phát hiện 2.653 vụ vi phạm các quy định về bảo vệ rừng, giảm 411 vụ, tương ứng giảm 13% so với cùng kỳ; diện tích thiệt hại 852 ha, giảm 6% (56 ha) so với cùng kỳ. Kết quả nỗi bật, ấn tượng nhất của ngành Lâm nghiệp trong năm 2021 có thê nhận thấy rõ, đó là về giá trị kim ngạch xuất khẩu. Trong cả năm 2021, mặc dù chiu tác động của dịch COVID-19 gây ảnh hưởng đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khâu của toàn ngành đạt gần 16 tỷ USD, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra với 14 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2020, xuất siêu cả năm đạt gần 13 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2020. Với những con số này, giá trị xuất khâu lâm sản đã chiếm trên 30% tổng giá trị kim ngạch xuất khâu ngành hàng nông lâm thủy sản cả nước; đạt 4,7% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc và là 1 trong 7 mặt hang có giá trị xuất khâu trên 10 tỷ USD. Giá trị xuất siêu lâm sản lớn nhất trong nhóm các ngành nông lâm thủy sản, đóng góp quan trọng vào giá trị xuất siêu của ngành. Đây là kết quả rất đáng ghi nhận khi dich COVID - 19 ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất, kinh doanh và công tác xuất khâu, đặc biệt hơn, đây là năm ngành gỗ và lâm sản gặp rất nhiều cạnh tranh về thương mại của các thị trường lớn.
Cấu trúc rừng đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu Lâm nghiệp, đặc biệt là câu trúc rừng trồng. Trước hết, cấu trúc rừng trồng sẽ phản ánh không gian dinh dưỡng cá thé của cây đơn lẻ, một yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới sinh trưởng của cây rừng (F. Cấu trúc rừng phức tạp hơn sẽ làm phong phú nơi ở cho các loài động vật và côn trùng. Cấu trúc rừng là chìa khóa dé chúng ta hiểu biết hơn về các chức năng của các hệ sinh thái (Frans Bongers, 2001; Bui Manh Hung, 2016).
Cấu trúc rừng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới đa dạng sinh học các loài sống trong khu rừng, kiểm soát xói mòn, lượng nước trong rừng và sinh khối carbon trong rừng (Rubén Valbuena, 2015). Rừng đóng vai trò chủ yếu trong điều hòa khí hậu, thông qua quá trình quang hợp, hap thụ CO2 chuyên đổi và giữ lai carbon trong sinh khối của rừng, trong thân cây, cành cây, tán lá, rễ cây và carbon hữu cơ trong đất. Rừng có khả năng hấp thụ carbon từ khi bắt đầu sinh trưởng, đến khi trưởng thành thì quá trình hấp thụ diễn ra tương đương với quá trình phân hủy và đạt được cân bằng, tại thời điểm này rừng không hap thụ carbon nữa, nhưng nó đã trở thành một bề chứa carbon không lồ. Khi cây rừng bị chặt đi, một lượng lớn carbon thoát ra khí quyền và trở thanh một nguồn phát thải gây hiệu ứng nhà kính.
Nhưng khi cây được trồng lại quá trình hấp thụ carbon lại tiếp tục diễn ra tạo thành một vòng tuần hoàn. Không thé không thừa nhận rằng rừng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu trữ carbon. Trong những năm gan đây các nha khoa học đã tiến hành nghiên cứu khả năng lưu trữ carbon cũng như cách xác định lượng carbon có thể lưu trữ bằng các phương pháp như: Phương pháp chặt hạ, phương pháp không chặt hạ, phương pháp viễn thám và đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu còn nhỏ lẻ, rời rac, chưa có hệ thống, thiếu các dữ liệu cơ bản, đặc biệt là chưa gắn khả năng hấp thụ carbon của rừng với các cấp đất cụ thể nên khả năng ứng dụng chưa cao.
Rừng Thông ba lá ở Đà Lạt đã và đang có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương thông qua các lợi ích trực tiếp như khai thác lâm sản, kinh doanh du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng và có tiềm năng về giá trị sử dụng gián tiếp từ lợi ích rừng tạo ra như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, lũ lụt, đa dạng sinh học, hấp thụ COd, tích tụ carbon. Ngoài việc tích tụ carbon của rừng thì con người cũng tác động gây nên phát thải khí CO2. Qua những lý do trên, đề tài: “Đặc điểm cấu trúc và khả năng tích tụ carbon rừng trồng Thông ba lá (Pinus kensiya Royle ex. Gordon) tai xã Trạm Hanh, Thanh phố Đà Lat, tinh Lam Dong” được tiến hành nghiên cứu nhằm góp phan chon ra ham phân bố thích hợp nhất dé mô phỏng cấu trúc rừng trồng Thông ba lá, tính lượng hấp thụ carbon của rừng được chính xác cao và giảm thiểu các sai số đến thấp nhất làm cơ sở ban đầu cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quan lý và chi trả dich vụ môi trường rừng trong tương lai.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định đặc điểm cấu trúc rừng thông qua việc phân bồ số cây theo các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính Di 5, chiều cao Hụ qua từng năm trồng. Tính toán lượng sinh khối và carbon rưng tại khu vực nghiên cứu. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng Rừng trồng Thông ba lá (Pinus kesiya Royle ex.
Gordon) tại xã Trạm Hanh, Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Phạm vi nghiên cứu Rừng trồng Thông ba lá tại xã Trạm Hành thuộc lâm phận Ban Quản lý rừng đặc dụng Lâm Viên tại Tp. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đề tai chỉ nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng về đường kính (D¡3), chiều cao (Hv), thé tích thân cây (V); đặc điểm cấu trúc rừng trồng (phân bố N%/Dha, N%/Hvn), tính trữ lượng carbon than cây cho rừng trồng Thông ba lá tại địa bản nghiên cứu. Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2022 tới tháng 02 năm 2023. Chương 2 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm 2.
Cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tô chức nội bộ của các thành phan sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể cùng sinh sống trong một khoảng không gian nhất định trong một giai đoạn phát triển của rừng. Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao (theo Đặng Thị Thu Hương, 2014). Sự phân bố của quan xã thực vật trong không gian thé hiện theo hai khía cạnh: theo chiều thang đứng và theo chiều nằm ngang của rừng (theo Richard. Cấu trúc tudi Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thai tuổi tac của các loài cây tham gia hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có mối liên quan chặt chẽ với cấu trúc về mặt không gian.
Trong nghiên cứu và kinh doanh rừng người ta thường phân tuôi lâm phần thành các cấp tuổi. Thường thì mỗi cấp tuổi có thời gian là 5 năm, nhiều khi là các mức 10, 15, hoặc 20 năm tùy theo đối tượng và mục đích. Cấu trúc mật độ Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích. Phản ảnh mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần.
Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh rừng, khả năng sản xuất của rừng. Theo thời gian, cấp tuổi của rừng thì mật độ luôn thay đối. Đây chính là cơ sở của việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng. Tổng khối lượng của các sinh vật sống trong một khu vực nhất định hoặc của một loài nhất định thường được biểu thị bằng trọng lượng khô.
Chất hữu co bao gồm hoặc gan đây có nguồn gốc từ sinh vật sống (đặc biệt được coi là nhiên liệu) không bao gồm than bùn. Bao gồm các sản phẩm, phụ phâm và chất thải có nguồn gốc từ vật liệu đó. Ngần sách carbon (Carbon budget) Sự cân bằng của sự trao đổi carbon giữa các bể chứa carbon hoặc trong một vòng lặp cụ thé (vi dụ, khí quyền — sinh quyên) của chu trình carbon (IPCC, 2006). CO tương đương (Carbon dioxide equivalent) Một biện pháp được sử dụng để so sánh các khí nhà kính khác nhau dựa trên sự đóng góp của chúng vào lực bức xa.
Tich tu carbon Khi nhắc đến nghiên cứu về tích tụ carbon hay hấp thu COa, yếu tố đầu tiên nghĩ đến sẽ là sinh khối.