Tổng quan nghiên cứu

Sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, đặc biệt là khí CO2 với mức tăng cao kỷ lục trong gần 30 năm qua theo báo cáo của Tổ chức Khí tượng Thế giới, đang là tác nhân cốt lõi dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu. Đứng trước thách thức này, hệ sinh thái rừng ngập mặn đóng vai trò như những bể chứa sinh học quan trọng nhờ khả năng lưu trữ và cô lập một lượng lớn cacbon hữu cơ. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái rừng ngập mặn tại nhiều dải ven biển đang làm suy giảm chức năng phòng hộ và giảm phát thải. Nhằm hiện thực hóa Chương trình hành động quốc gia về Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, việc định lượng trữ lượng cacbon trở thành yêu cầu kỹ thuật mang tính tiên quyết.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học môi trường tập trung nghiên cứu, đánh giá khả năng tạo bể chứa cacbon của rừng ngập mặn trồng thuần loài bần chua (Sonneratia caseolaris) ở các cấp 5, 6 và 7 tuổi tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017 trên tổng thể vùng rừng ngập mặn địa phương có quy mô hơn 400 ha. Mục tiêu trọng tâm là xác định cấu trúc hình thái, mật độ, sinh khối tích lũy và hàm lượng cacbon trong sinh khối thực vật cũng như trong đất ngập mặn. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác với hệ số quy đổi cụ thể, hỗ trợ đắc lực cho các chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng và xây dựng hạn ngạch tín chỉ cacbon tại khu vực ven biển Bắc Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu và phương pháp tiếp cận định lượng bể chứa cacbon rừng ngập mặn của Trung tâm Nghiên cứu Rừng Quốc tế. Mô hình nghiên cứu tập trung đánh giá ba bể chứa cacbon chủ đạo trong hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm: bể chứa cacbon trong thực vật trên mặt đất (thân, cành, lá, hoa, quả), bể chứa cacbon trong thực vật dưới mặt đất (hệ rễ) và bể chứa cacbon hữu cơ tích lũy trong đất trầm tích ngập mặn.

Khung lý thuyết vận dụng các khái niệm cốt lõi về sinh khối khô, chu trình trao đổi chất của hệ sinh thái ven biển và năng suất sơ cấp tinh của thảm thực vật ngập mặn. Cây bần chua (Sonneratia caseolaris) thuộc họ Bần, bộ Sim, là loài cây tiên phong có biên độ sinh thái thích nghi cao trên nền đất bùn lỏng thiếu oxy nhờ hệ thống rễ hô hấp hình chông phát triển mạnh mẽ. Quá trình tích lũy vật chất hữu cơ của loài cây này được phản ánh qua các phương trình tương quan sinh trưởng allometric kết hợp hệ số chuyển đổi sinh khối sang cacbon hữu cơ đặc thù đạt 0,4953 (tương ứng 49,53%) và hệ số quy đổi tương đương khối lượng CO2 hấp thụ là 3,67.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thực địa kết hợp phân tích phòng thí nghiệm theo quy trình tiêu chuẩn:

  • Bố trí thí nghiệm: Tuyến khảo sát được thiết lập theo hướng vuông góc với đê biển tại xã Đa Lộc. Mỗi cấp tuổi rừng (5 tuổi, 6 tuổi và 7 tuổi) được bố trí 3 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên có kích thước 100 m² (10m x 10m), khoảng cách giữa các ô trung bình 100 m để xác định mật độ cá thể, đo đạc đường kính thân tại vị trí cách mặt đất 30 cm và chiều cao vút ngọn.
  • Phương pháp lấy và phân tích mẫu đất: Thiết bị khoan lấy mẫu chuyên dụng HUNlwilde dài 120 cm được sử dụng để thu thập mẫu đất theo 5 tầng độ sâu: 0 - 20 cm, 20 - 40 cm, 40 - 60 cm, 60 - 80 cm và 80 - 100 cm. Tổng số lượng gồm 90 mẫu đất từ các ô tiêu chuẩn rừng trồng qua hai đợt khảo sát và 15 mẫu đất đối chứng tại bãi triều không có rừng, nâng tổng quy mô phân tích lên 105 mẫu. Hàm lượng cacbon hữu cơ trong đất được xác định bằng phương pháp Chiurin thông qua phản ứng oxy hóa chất hữu cơ bằng dung dịch K2Cr2O7 trong môi trường H2SO4 đặc ở 180°C và chuẩn độ bằng muối Mohr với chỉ thị Feroin.
  • Phương pháp ước tính sinh khối và xử lý số liệu: Sinh khối trên và dưới mặt đất của từng cá thể được tính toán gián tiếp không phá hủy thông qua hệ phương trình allometric phụ thuộc đường kính thân. Biến thiên trữ lượng cacbon được đánh giá theo phương pháp chênh lệch bể chứa của IPCC qua hai mốc thời gian (tháng 11/2016 và tháng 4/2017). Toàn bộ dữ liệu được phân tích thống kê toán học nhằm tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và khoảng tin cậy với mức ý nghĩa 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận sự gia tăng rõ rệt về các chỉ tiêu sinh trưởng và khả năng tích lũy vật chất hữu cơ của rừng bần chua theo thời gian sinh trưởng:

  • Mật độ và cấu trúc hình thái: Mật độ cây rừng có xu hướng phân hóa theo tuổi, thấp nhất ở rừng 5 tuổi với 2.967 cây/ha, tăng lên 3.233 cây/ha ở rừng 6 tuổi và đạt cao nhất ở rừng 7 tuổi với 4.067 cây/ha. Đường kính thân trung bình tăng từ 8,93 ± 0,53 cm (rừng 5 tuổi) lên 10,04 ± 0,48 cm (rừng 6 tuổi) và đạt 12,33 ± 0,27 cm (rừng 7 tuổi). Chiều cao cây trung bình cũng tăng tương ứng từ 3,07 ± 0,23 m đến 4,64 ± 0,21 m.
  • Sinh khối cá thể và tỷ lệ phân bố: Sinh khối tổng số của cây bần chua bứt phá mạnh mẽ theo cấp tuổi, đạt 4,55 ± 0,95 kg/cây ở rừng 5 tuổi, 7,19 ± 1,31 kg/cây ở rừng 6 tuổi và lên tới 17,09 ± 1,41 kg/cây ở rừng 7 tuổi. Trong đó, sinh khối trên mặt đất chiếm tỷ trọng chủ đạo từ 75,38% đến 79,11%, trong khi sinh khối rễ dưới mặt đất dao động từ 20,89% đến 24,62%.
  • Sinh khối quần thể rừng: Sinh khối trên mặt đất của quần thể rừng 7 tuổi năm 2017 đạt 57,44 ± 7,49 tấn/ha, cao gấp 2,78 lần so với rừng 6 tuổi (20,66 ± 2,78 tấn/ha) và gấp 4,83 lần so với rừng 5 tuổi (11,90 ± 3,29 tấn/ha). Tốc độ tăng trưởng sinh khối trên mặt đất giữa hai đợt đo đạc ghi nhận mức tăng cao nhất ở rừng 7 tuổi với 8,53 tấn/ha, vượt xa mức tăng 5,70 tấn/ha của rừng 6 tuổi và 3,43 tấn/ha của rừng 5 tuổi.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về mật độ và sinh khối giữa các cấp tuổi phản ánh quá trình khép tán và khả năng chống chịu điều kiện tự nhiên của rừng ngập mặn. Rừng 5 tuổi nằm ở đai ngoài cùng giáp biển, thời gian ngập triều dài và chịu tác động trực tiếp của sóng gió khiến cây non bị tổn thương. Đặc biệt, sự bám dính của các loài động vật đáy như hà sun, hàu kết hợp sâu bệnh khiến tỷ lệ cây chết cao hơn, tạo nên khoảng trống và làm giảm mật độ quần thể. Ngược lại, rừng 7 tuổi nằm phía trong chân đê, đón nhận lượng phù sa bồi lắng dồi dào từ sông Lèn và bước vào giai đoạn khép tán hoàn thiện, dẫn đến đường kính và chiều cao thân cây tăng trưởng vượt trội.

Khi so sánh với các nghiên cứu vùng ven biển Bắc Bộ, đường kính thân cây bần chua thuần loài 7 tuổi tại Đa Lộc (12,33 cm) tương đương với kích thước bần chua 10 tuổi trong mô hình hỗn giao tại Thái Bình (12,89 cm). Điều này chứng minh phương thức trồng thuần loài trên nền phù sa cửa sông tạo điều kiện tối ưu cho sự tích lũy sinh khối cá thể. Các kết quả phân bố sinh khối và trữ lượng cacbon có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột phân tầng độ sâu đất và đồ thị tương quan hồi quy giữa đường kính với sinh khối, giúp làm rõ đóng góp vượt trội của bể chứa trên mặt đất đối với chu trình hấp thụ CO2 ven biển.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao khả năng tích lũy cacbon và phát triển bền vững rừng ngập mặn:

  • Tăng cường các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và bảo vệ đai rừng non: Tiến hành tuyển chọn cây giống chất lượng cao, có khả năng chống chịu mặn và sóng gió tốt để thực hiện trồng dặm kịp thời tại các khoảng trống. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sống của rừng bần 1 đến 5 tuổi lên trên 85% và duy trì mật độ quần thể ổn định tối thiểu 3.000 cây/ha. Kế hoạch triển khai trong giai đoạn 2026 - 2028 dưới sự chủ trì của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Hậu Lộc phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Đa Lộc.
  • Kiểm soát sinh vật gây hại và sinh vật bám ven biển: Áp dụng các biện pháp cơ học định kỳ để làm sạch hà sun, hàu bám trên thân cây con ở đai rừng ngoài mép nước, đồng thời theo dõi phát hiện sớm sâu đục thân nhằm giảm tỷ lệ gãy đổ xuống dưới mức 10%. Giải pháp do Hợp tác xã lâm nghiệp và cộng đồng địa phương thực hiện thường xuyên từ năm 2026.
  • Thiết lập hệ thống quan trắc và đo đếm trữ lượng cacbon chuẩn hóa: Xây dựng mạng lưới các ô tiêu chuẩn cố định có gắn định vị tọa độ vệ tinh, định kỳ ứng dụng bộ phương trình allometric đã kiểm chứng để cập nhật dữ liệu biến thiên các bể chứa AGB, BGB và cacbon trong đất cho toàn bộ hơn 400 ha rừng ngập mặn Đa Lộc. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2026 - 2030 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa chủ trì cùng các viện nghiên cứu.
  • Thúc đẩy thương mại hóa tín chỉ cacbon rừng: Hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật định lượng giảm phát thải theo tiêu chuẩn quốc tế để kết nối rừng ngập mặn Đa Lộc vào thị trường cacbon tự nguyện, hướng tới mục tiêu thu hút nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt từ 15 đến 20 USD trên mỗi tấn CO2 tương đương. Nhiệm vụ do Cục Biến đổi khí hậu phối hợp cùng các tổ chức quốc tế triển khai thí điểm từ năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cán bộ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sử dụng dữ liệu để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng phòng hộ và ban hành chính sách chi trả dịch vụ hấp thụ cacbon rừng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên, Lâm sinh ứng dụng phương pháp phân tích Chiurin và hệ phương trình tương quan sinh khối để phát triển các đề tài liên quan.
  • Tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý dự án quốc tế: Các chuyên gia điều hành dự án bảo tồn thuộc Quỹ Nhi đồng Anh, Hội Chữ thập đỏ sử dụng tài liệu làm căn cứ đánh giá hiệu quả sinh thái của các dự án trồng rừng ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê điều.
  • Chính quyền địa phương và cộng đồng ven biển: Ủy ban nhân dân các xã bãi triều áp dụng quy trình chăm sóc, bảo vệ và xử lý sinh vật bám nhằm nâng cao năng suất sinh khối và phát triển kinh tế sinh kế dưới tán rừng.

Câu hỏi thường gặp

Hệ số quy đổi sinh khối sang cacbon của loài bần chua được xác định là bao nhiêu?

Theo kết quả nghiên cứu kế thừa và thực nghiệm trong luận văn, hệ số quy đổi từ sinh khối khô sang cacbon hữu cơ tích lũy của loài bần chua (Sonneratia caseolaris) là 0,4953 (tương đương 49,53%). Khi chuyển đổi từ trữ lượng cacbon sang lượng CO2 tương đương hấp thụ, hệ số nhân chuẩn hóa quốc tế là 3,67.

Vì sao sinh khối và mật độ rừng bần 5 tuổi lại thấp hơn nhiều so với rừng 7 tuổi?

Rừng 5 tuổi nằm ở đai ngoài cùng sát biển, chịu ngập triều kéo dài và sóng gió tác động mạnh. Cây non chưa khép tán bị các loài động vật đáy như hà sun, hàu bám vào thân làm gãy gập, kết hợp sâu bệnh ăn lá làm giảm tỷ lệ sống, dẫn đến mật độ chỉ đạt 2.967 cây/ha so với 4.067 cây/ha ở rừng 7 tuổi.

Luận văn sử dụng phương trình tương quan nào để tính sinh khối cây bần chua?

Tác giả ứng dụng hệ phương trình allometric theo đường kính thân cách mặt đất 30 cm: sinh khối trên mặt đất tính bằng 0,000318 nhân với lũy thừa 4,19917 của đường kính thân; sinh khối dưới mặt đất tính bằng 0,000431 nhân với lũy thừa 3,56175 của đường kính thân.

Tỷ lệ phân bố sinh khối giữa các bộ phận của cây bần chua thay đổi như thế nào theo tuổi rừng?

Sinh khối trên mặt đất luôn chiếm tỷ trọng ưu thế và tăng dần theo tuổi cây, từ 75,38% ở rừng 5 tuổi lên 79,11% ở rừng 7 tuổi. Ngược lại, sinh khối dưới mặt đất giảm tỷ trọng tương đối từ 24,62% xuống 20,89% do đặc tính rễ thở hình chông xốp nhẹ có trọng lượng khô thấp so với thân gỗ.

Nghiên cứu đã thực hiện phân tích bao nhiêu mẫu đất ngập mặn?

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý tổng cộng 105 mẫu đất tại 5 tầng độ sâu từ 0 đến 100 cm bằng thiết bị khoan máng HUNlwilde. Số lượng này bao gồm 90 mẫu đất tại các ô tiêu chuẩn thuộc 3 cấp tuổi rừng qua hai đợt khảo sát và 15 mẫu đất đối chứng tại bãi triều không có rừng.

Kết luận

  • Sinh khối cá thể cây bần chua tăng trưởng vượt bậc theo độ tuổi, từ 4,55 kg/cây ở rừng 5 tuổi lên 17,09 kg/cây ở rừng 7 tuổi.
  • Sinh khối trên mặt đất của quần thể rừng 7 tuổi năm 2017 đạt 57,44 tấn/ha, cao gấp 4,83 lần so với rừng 5 tuổi (11,90 tấn/ha).
  • Mật độ quần thể có sự phân hóa mạnh mẽ từ 2.967 cây/ha ở rừng non ngoài mép nước lên 4.067 cây/ha ở rừng 7 tuổi giáp đê.
  • Sinh khối trên mặt đất chiếm từ 75,38% đến 79,11% tổng sinh khối cây, giữ vai trò then chốt trong việc quang hợp và cô lập CO2.
  • Công trình đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu định lượng tin cậy, làm nền tảng khoa học cho việc thương mại hóa tín chỉ cacbon ven biển Bắc Trung Bộ.

Các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quan trắc chu kỳ 3 đến 5 năm để theo dõi biến thiên cacbon hữu cơ trong tầng đất sâu đến 200 cm. Hãy tìm hiểu và khai thác toàn văn tài liệu nghiên cứu để áp dụng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tối ưu, góp phần phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Việt Nam.