mở đầu và kết thúc âm tiết. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chỉ giới hạn với cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn tiếng Việt với 6 phụ âm đầu tắc, mũi /m, n, , p, t, k/ và 6 phụ âm cuối tắc, mũi /m, n, p, t/ và / , k/. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để phục vụ cho việc mô tả cấu trúc formant của nguyên âm trong các kết hợp, chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phương pháp: phương pháp miêu tả và ngữ âm học thực nghiệm. Ngoài ra, để chỉ rõ sự ảnh hưởng giữa thanh điệu đến formant của nguyên âm, giữa phụ âm đầu và cuối đến formant so sánh với formant nguyên âm ở trạng thái độc lập, một số thủ pháp thống kê và so sánh cũng được sử dụng để trình bày, thể hiện và nhận xét các kết quả.
Để quan sát, miêu tả, phân tích các thông số âm học (các giá trị formant (F1, F2) của nguyên âm) cũng như vẽ các biểu đồ, luận án đã sử dụng phần mềm phân tích ngữ âm Praat. Minh hoạ chương trình Praat và các cửa sổ của nó. Praat gồm màn hình phía trên hiển thị dạng sóng của âm; màn hình dưới hiển thị các tham số: 1- Cửa sổ phía trên biểu thị dạng sóng của nguyên âm. 2 - Cửa sổ phía dưới biểu thị ảnh phổ trong đó có hiển thị đường nét diễn tiến formant của nguyên âm.
Ảnh phổ biểu thị vùng năng lượng của formant là những khoảng tối sậm màu; vùng sậm màu ở dưới cùng biểu thị F1 của nguyên âm, những vùng sậm màu phía trên biểu thị vùng tần số F2. 16 Đường nét của formant của nguyên âm được hiển thị bằng những điểm liên tục màu đen nhạt; 3- Cửa sổ nhỏ phía trên bên phải hiển thị các giá trị formant của nguyên âm trên từng điểm đo. Trục tung bên trái là thang đo và các mức tần số Hertz (Hz), trục hoành phía dưới là trường độ của âm được tính bằng mili giây (ms). Các khoảng đo cách đều nhau 10 ms cho phép theo dõi sự diễn tiến của formant và sự biến đổi của cường độ đo bằng decibel (dB) và ranh giới trường độ mỗi bộ phận cấu thành âm tiết theo hàm thời gian.
Diễn tiến tần số F3 Diễn tiến tần số F1 Diễn tiến tần số F2 Giá trị tần số F1, F2, F3, F4 trên từng điểm đo Căn cứ vào Spectrogam này, chúng tôi phải xác định được hai thông số âm học: - Trường độ của phụ âm đầu tính bằng mili giây (ms) liên quan đến phương thức và thanh tính của phụ âm đó. 17 - Trường độ formant của nguyên âm tính bằng mili giây (ms) liên quan đến phương thức và vị trí cấu âm của nguyên âm. - Diễn tiến của formant tính bằng Herz (Hz) theo thời gian (ms) trong đó quan trọng nhất là diễn tiến ở giai đoạn chuyển tiếp của F1 và F2 kết hợp với âm đầu và âm cuối. Đây là thông số âm học được quan tâm nghiên cứu.
Để xác định được hai thông số trên, ở mỗi Spectrogam phải xác định hai điểm quan trọng: - Điểm bắt đầu của đỉnh chuyển tiếp tức là ranh giới giữa phụ âm đầu và nguyên âm. - Điểm kết thúc chuyển tiếp của các formant, thời điểm mà các formant kết thúc quá trình đi lên hoặc đi xuống, bắt đầu diễn tiến đều đặn như formant của âm tiết trong kết hợp thanh điệu không bị chi phối bởi phụ âm đầu. Chương trình Praat tính toán diễn tiến tần số của tất cả các formant (F1, F2, F3, F4) của nguyên âm theo thời gian từ đầu đến cuối của một âm tiết. Như vậy, khi đã xác định được hai điểm trên trong một Spectrogam, chúng tôi có thể xác định được: - Trường độ (ms) của phụ âm đầu và trường độ formant của nguyên âm - Diễn tiến vùng tần số (Hz) của các formant trong giai đoạn chuyển tiếp và thời gian (ms) chuyển tiếp.
- Diễn tiến tần số (Hz) của các formant trong giai đoạn ổn định và thời gian (ms) ổn định. Kết quả đo trở thành nguồn tư liệu để vẽ các biểu đồ. Chúng tôi vẽ hai loại biểu đồ: - Biểu đồ thể hiện vùng tần số F1, F2 của các nguyên âm đơn của 6 CTV. 18 - Biểu đồ thể hiện trường độ formant của các nguyên âm trong các kết hợp.
Tất cả các dữ liệu thông số âm học về trường độ (ms), vùng tần số formant (Hz) của những CTV tiêu biểu, sau khi xử lí, được chuyển sang dạng văn bản Excel. Dữ liệu được trình bày ở phụ lục. Về ghi âm, chúng tôi lựa chọn 6 CTV là các phát thanh viên của Đài tiếng nói Việt Nam, giọng Hà Nội, có độ tuổi từ 30 đến 40, được yêu cầu phát âm theo bảng từ. Nguyên âm được chọn làm thực nghiệm ở đây là 9 nguyên âm đơn dài, xuất hiện trong kết hợp với 6 thanh điệu, và kết hợp với phụ âm ở các kiểu cấu trúc âm tiết khác nhau (CV, VC).
Các kiểu cấu trúc âm tiết được khảo sát trong luận án chỉ có nguyên âm và phụ âm mà chưa xét đến những trường hợp có âm đệm đi kèm. Cụ thể về các kiểu cấu trúc âm tiết tiếng Việt được khảo sát như sau: + Kiểu cấu trúc âm tiết 1 (V) bao gồm 9 nguyên âm đơn tiếng Việt kết hợp với 6 thanh điệu: i, ì, ĩ, ỉ, í, ị ê, e, ư, ơ, a, u, ô, o,… 9 nguyên âm x 6 thanh điệu x 6 CTV = 324 mẫu + Kiểu cấu trúc âm tiết 2 (CV) bao gồm 3 âm đầu ở vị trí C là các phụ âm /p, t, k/: ví dụ: pa, pi, pê, pe, ta, ti, tê, te, ca, ki, kê… 3 phụ âm x 9 nguyên âm x 6 CTV = 162 mẫu + Kiểu cấu trúc âm tiết 3 (CV) bao gồm 3 âm đầu ở vị trí C là các phụ âm /m, n, ŋ/, ví dụ: ma, mi, mê, mư, ni, nê, nghi, nghê. 3 phụ âm x 9 nguyên âm x 6 CTV = 162 mẫu + Kiểu cấu trúc âm tiết 4 (VC) bao gồm 3 âm cuối ở vị trí C là các phụ âm /m, n, ŋ/, ví dụ: am, im, êm, em, in, ên, en, inh, ang, eng. 3 phụ âm x 9 nguyên âm x 6 CTV = 162 mẫu + Kiểu cấu trúc âm tiết 5 (VC) bao gồm 3 âm cuối ở vị trí C là các phụ âm /p, t, k/, ví dụ: át, ít, ết, ét, ứt.
19 3 phụ âm x 9 nguyên âm x 2 thanh điệu x 6 CTV = 324 mẫu Tổng số các âm tiết khảo sát là 1134 mẫu. Việc tiến hành thu âm được thực hiện trong phòng thu của Đài tiếng nói Việt Nam với độ cách âm cao (mức độ ồn nhiễu 1dB), sử dụng microphone (SHURE SM 58) với khoảng cách 5-10 cm. Ghi âm bằng phần mềm CoolEdit Pro, tín hiệu ghi âm được số hóa 16 bit, Mono, tần số lấy mẫu 11025 Hz. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần chỉ ra các đặc điểm cấu trúc formant nguyên âm tiếng Việt trong quan hệ với các đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn.
Trên cơ sở so sánh với một số tác giả khác nhằm chỉ ra các nét đặc thù riêng của tiếng Việt được thể hiện ở các formant. Những kết quả khảo sát của luận án là một tổng quan nghiên cứu về formant của nguyên âm trong mối quan hệ với thanh điệu và âm tắc. Nó có thể làm cơ sở và được tiếp tục nghiên cứu rộng hơn sang các phong cách nói khác, ở những vùng phương ngữ khác nhau, các cá nhân ở nhóm tuổi khác nhau, ứng dụng cho các mục đích tổng hợp, nhận dạng và giám định âm thanh lời nói tiếng Việt. Luận án sẽ đóng góp các kết quả khoa học mới: - Nghiên cứu quy luật biến đổi cấu trúc formant của nguyên âm khi kết hợp với thanh điệu và âm tắc mô tả trên ba phương diện: trường độ, vùng tần số và diễn tiến vùng tần số.
- Mô hình hoá và đưa ra các tham số đặc trưng cho vùng quá độ giữa formant và âm tắc, giữa formant và thanh điệu. Những nghiên cứu này tạo tiền đề cho việc cải tiến, nâng cao chất lượng của các hệ tổng hợp âm thanh tiếng nói, nhận dạng tiếng Việt. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục luận án được cấu trúc gồm 4 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết Trong chương này chúng tôi trình bày tổng quan về nghiên cứu formant của nguyên âm của một số ngôn ngữ trên thế giới và tiếng Việt. Một số khái niệm cơ sở lí thuyết liên quan đến formant của nguyên âm, đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Việt và mối quan hệ giữa các đơn vị chiết đoạn và siêu đoạn trong tiếng Việt.
Chƣơng 2: Mối quan hệ giữa formant của nguyên âm và thanh điệu Chương này trình bày mối quan hệ của thanh điệu đối với cấu trúc formant của nguyên âm. Chƣơng 3: Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm đầu tắc và thanh điệu Nội dung chương 3 mô tả sự ảnh hưởng của nhóm phụ âm đầu tắc vô thanh /p, t, k/, nhóm phụ âm mũi /m, n, ŋ/ đến formant của các nguyên âm trên các phương diện: vùng tần số, diễn tiến đường nét và trường độ. Chƣơng 4: Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm cuối tắc và thanh điệu Nội dung chương 4 mô tả ảnh hưởng của nhóm phụ âm cuối tắc vô thanh /p, t, k/ trong tương quan so sánh với nhóm phụ âm mũi /m, n, ŋ/ đến formant của các nguyên âm trên các phương diện vùng tần số, diễn tiến đường nét và trường độ. 21 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT Để có cơ sở cho việc phân tích và miêu tả cấu trúc formant của nguyên âm tiếng Việt trong kết hợp với thanh điệu và các phụ âm ở các chương tiếp theo, chương này luận án giới thiệu một số cơ sở lí thuyết có liên quan đến nguyên âm và cấu trúc formant của nguyên âm.
Khái niệm formant của nguyên âm Formant được định nghĩa bởi Gunnar Fant (1960) "những đỉnh quang phổ của phổ âm thanh được gọi là các formant". Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu ngữ âm học và các xử lí âm thanh trong công nghệ [93]. Khái niệm này còn được Benade (1976) sử dụng với nghĩa tương tự "formant là những đỉnh được quan sát trong sự bao phủ của phổ được gọi là các formant".