Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Cấu trúc formant của nguyên âm tiếng Việt trong kết hợp với âm tắc và thanh điệu (Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm)" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (hướng Ngữ âm học thực nghiệm và Xử lý tiếng nói).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, trong đó âm tiết là một đơn vị hoàn chỉnh độc lập, là đơn vị cuối cùng trong việc phân xuất các đơn vị của lời nói và là cơ sở để phân tích cấu trúc kết hợp các âm vị. Hệ thống âm vị tiếng Việt bao gồm ba loại: nguyên âm, phụ âm (các âm vị đoạn tính, tuyến tính) và thanh điệu (âm vị siêu đoạn tính, phi tuyến tính, bao trùm toàn bộ âm tiết). Mặc dù các công trình thực nghiệm trước đây đã công bố nhiều kết quả về hệ thanh điệu và formant của các nguyên âm đơn độc lập, nhưng trong phạm vi âm tiết tiếng Việt, mối quan hệ hay vai trò tác động qua lại của âm đầu và âm cuối đối với nguyên âm (thể hiện qua cấu trúc formant) và thanh điệu (thể hiện qua âm vực và đường nét) vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện. Cùng với đó, sự phát triển của công nghệ thông tin, viễn thông và các hệ thống tự động nhận dạng, tổng hợp tiếng nói (với sự xuất hiện của các phần mềm thương mại tiếng Anh như IBM Via Voice, Dragon Naturally Speaking, L&H Voice Xpress hay giao diện VUI của Microsoft; cùng các chương trình nghiên cứu nhận dạng tiếng Việt được triển khai từ năm 1981 và ưu tiên từ năm 1991 đến nay) đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc cung cấp các thông số âm học thực nghiệm cụ thể và chính xác của ngữ âm tiếng Việt.

Mục đích chính của luận án là mô tả cấu trúc formant của các nguyên âm đơn trong kết hợp với thanh điệu và âm tắc ở các vị trí khác nhau trong âm tiết, nhằm cung cấp các thông số âm học cho quá trình tổng hợp và nhận dạng giọng nói tiếng Việt. Để đạt mục đích này, luận án xác định 8 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu cấu trúc formant của nguyên âm ở nước ngoài và ở Việt Nam nhằm xác định rõ hướng nghiên cứu của đề tài.
  2. Xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài trên cơ sở định rõ khái niệm cấu trúc formant của nguyên âm và những vấn đề liên quan.
  3. Tìm các đặc điểm âm học liên quan đến formant của nguyên âm trong quan hệ với thanh điệu và phụ âm tắc, phụ âm mũi; đồng thời xác định sự tác động qua lại của các yếu tố như phụ âm (phụ âm tắc, phụ âm mũi) và thanh điệu đến formant của nguyên âm trên ba phương diện: trường độ formant, vùng tần số formant và diễn tiến formant.
  4. Chỉ ra các đặc điểm âm học của mối quan hệ giữa phụ âm và nguyên âm, giữa thanh điệu và nguyên âm.
  5. Phân tích và mô tả đặc điểm liên cấu âm giữa thanh điệu và nguyên âm.
  6. Phân tích và mô tả đặc điểm liên cấu âm giữa phụ âm đầu tắc và nguyên âm.
  7. Phân tích và mô tả đặc điểm liên cấu âm giữa phụ âm cuối tắc và nguyên âm.
  8. Rút ra những nhận xét chung về đặc điểm ngữ âm âm học của mối quan hệ giữa thanh điệu và nguyên âm, giữa phụ âm và nguyên âm có so sánh và thảo luận với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc formant của các nguyên âm đơn tiếng Việt trong bối cảnh kết hợp với thanh điệu và phụ âm tắc ở cả hai vị trí mở đầu và kết thúc âm tiết.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn dài tiếng Việt (/i, e, ɛ, ɯ, ɤ, a, u, o, ɔ/), kết hợp với 6 phụ âm đầu tắc và mũi (/p, t, k, m, n, ŋ/), 6 phụ âm cuối tắc và mũi (/p, t, k, m, n, ŋ/) và 6 thanh điệu, được thực hiện qua giọng đọc chuẩn của 6 phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội (lứa tuổi 30-40). Nghiên cứu không khảo sát các âm tiết có âm đệm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được chia thành hai mảng lớn: các nghiên cứu quốc tế và các nghiên cứu tại Việt Nam về formant và cấu trúc âm tiết.

Về các nghiên cứu trên thế giới:

  • Khái niệm và bản đồ formant nguyên âm: Hermann, L. (1889) đề xuất khái niệm formant dựa trên sự gia tăng cường độ do cộng hưởng khoang. Gunnar Fant (1960) định nghĩa formant là các đỉnh quang phổ của phổ âm thanh, và Benade (1976) xem formant là các đỉnh trong đường bao phổ. Peterson và Barney (1952) đã lập bản đồ âm học 10 nguyên âm đơn tiếng Anh từ 76 người nói (nam, nữ, trẻ em) trong khuôn cấu trúc /hVd/, phân tích mối quan hệ giữa các giá trị formant với sự biến thiên cá nhân và phương ngữ. Shepard (1972) chỉ ra sự nhầm lẫn thẩm nhận liên quan trực tiếp đến sự gần gũi âm học của ba formant thấp nhất. Ladefoged và Maddieson (1990) chứng minh tần số formant xác định đặc trưng âm vị học qua lời nói tổng hợp (như việc hạ tần số formant để biến từ head thành hid). Gunnar Fant và cộng sự (1959) đã khảo sát 24 sinh viên nam Viện Kỹ thuật Hoàng gia Thụy Điển đối với các nguyên âm /u:, o:, a:, e:, y:, i:/ phục vụ ứng dụng của hãng Ericsson.
  • Chuyển tiếp formant và tiêu điểm (loci) của phụ âm: Gunnar Fant trong công trình "Stops in CV" mô tả tác động của phụ âm tắc đến formant. Manjari Ohala và John J. Ohala (1998) khảo sát cấu trúc VC (/a, i, u/ với /p, t, ʈ, k/) trong tiếng Hindi. Hant và Abeer Alwan nghiên cứu mô hình chuyển tiếp formant trong môi trường nhiễu và ngưỡng trượt thanh điệu. Nhóm tác giả trên tạp chí The Journal of Acoustical Society of America (1958) khẳng định chuyển tiếp F3 là dấu hiệu thẩm nhận các âm /b, d, g/. Cooper và cộng sự (1955, 1958) xác lập tiêu điểm (locus) của F2 cho các âm tắc hữu thanh (/b/ tại 720 cps, /d/ tại 1800 cps, /g/ trên 1200 cps). Yan Jingzhu (1995) phân tích 661 chuỗi kết hợp âm tiết VV tiếng Trung Quốc chuẩn bằng máy Kay và Sonagraph 5500.
  • Đặc trưng phương ngữ và cá thể: Andrew Butcher (2006) phân tích âm học cấu trúc /hVd/ của 92 phụ nữ miền Nam Australia bằng chương trình SIL. Martine Toda, Shinji Maeda, Micheal Aron và Marie-Odile Berger khảo sát cấu trúc formant F1-F2 của người nói lắp ở tốc độ phát âm khác nhau.

Về các nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu thực nghiệm về thanh điệu và formant: Lê Văn Lý là người đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm về thanh điệu tiếng Việt. Han Mieko (1968, 1969) khảo sát 11 nguyên âm đơn tiếng Hà Nội, xác định tác động của thanh 6 (thanh nặng) làm biến đổi F1 ở các nguyên âm hẹp và trung bình. Nguyễn Văn Ái (1973, 1974) phân tích 400 ảnh sóng âm và 1.300 đơn vị âm tiết trên máy xônagorap từ 3 cộng tác viên, đưa ra bảng vùng tần số F1-F2 của 9 nguyên âm và kết luận nguyên âm đơn tiếng Việt có từ 2 đến 5 formant. Hoàng Cao Cương (1982, 1986) phân tích sonagram, chỉ ra các thanh 1, 3, 5 thể hiện F2 rõ nét, trong khi các thanh khác thể hiện F1 rõ hơn; chuyển tiếp C1V (biến thiên 3-5 dB, trường độ tối thiểu 15 ms) ổn định hơn chuyển tiếp VC2 (biến thiên dưới 2 dB, trường độ dưới 10 ms); đồng thời phân lập thanh 1 là thanh thuần điệu tính, còn các thanh 3, 6, 5', 6' chịu sự chi phối của cấu trúc chiết đoạn. Vũ Kim Bảng (1984, 2002) đo đạc hệ formant của 9 nguyên âm đơn tiếng Hà Nội theo đơn vị Hz và Bark theo giới tính. Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Nguyễn Hàm Dương (1962), Nguyễn Văn Lợi, Vũ Thanh Phương, Andrea Phạm Hoa.
  • Về mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt: Lê Văn Lý chia âm tiết thành 4 loại tuyến tính (V, VC, CV, CVC); Nguyễn Bạt Tụy phân loại vần chính, vần bán, vần phụ; M. B. Emeneau (1951) mô tả tổ hợp phụ âm + nguyên âm + phụ âm; Laurence Thompson (1965) đề xuất mô hình hai bậc gồm âm đầu + hạt nhân + thanh điệu; Nguyễn Quang Hồng (1974) xem tiết vị là đơn vị cơ bản gồm khuôn thanh, khuôn vần kết hợp thanh và hô; Cao Xuân Hạo (1965, 1986, 1998) xây dựng lý thuyết phi đoạn và tính không phân lập của âm tiết tiếng Việt; Hoàng Tuệ (1972) nhấn mạnh quan hệ kết hợp âm chính - âm cuối; Đoàn Thiện Thuật (1977) đề xuất mô hình tầng bậc kết hợp cả yếu tố đoạn tính và siêu đoạn tính.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án đi sâu khảo sát định lượng toàn diện cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn khi chịu sự tác động đồng thời của phụ âm tắc (ở cả vị trí âm đầu và âm cuối) và hệ thống thanh điệu, phân tích chi tiết vùng tần số, trường độ và diễn tiến chuyển tiếp formant.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết ngữ âm học âm học và mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt:

  • Khái niệm formant: Formant là các đỉnh cộng hưởng trong phổ âm thanh. Khoang họng tạo ra formant thứ nhất (F1) phản ánh độ mở của miệng và độ nâng của lưỡi; khoang miệng tạo ra formant thứ hai (F2) phản ánh vị trí trước/sau của lưỡi. F3 xuất hiện rõ ở các âm mũi, còn F4, F5 liên quan đến đặc trưng cá nhân người nói.
  • Giải phẫu bộ máy phát âm: Bao gồm hệ hô hấp (phổi, khí quản) cung cấp năng lượng; thanh hầu (gồm sụn nhẫn, sụn giáp tạo góc 90 độ ở nam và 120 độ ở nữ hình thành "quả táo của Ađam", sụn phễu và dây thanh); các khoang cộng hưởng (họng, miệng, mũi). Dây thanh ở trạng thái tĩnh dài khoảng 1,5 cm ở nam và 1,2 cm ở nữ. Chiều dài bộ máy phát âm điển hình ở nam giới là 17,6 cm (Fant 1960), ở nữ giới bằng 80-90% và ở trẻ em bằng khoảng 50% người lớn (Pickett 1980).
  • Cơ chế tạo âm: Hoạt động rung của dây thanh tạo âm cơ bản theo lý thuyết cơ đàn hồi (myoelastic-aerodynamic). Âm thanh tiếng nói có các đặc trưng vật lý: dạng sóng tuần hoàn (nguyên âm - tiếng thanh) và không tuần hoàn (phụ âm - tiếng động); cao độ tương quan với tần số thanh cơ bản F0 (trung bình 130 Hz ở nam, 220 Hz ở nữ, 270 Hz ở trẻ em theo Peterson và Barney); cường độ tính bằng decibel (dB) theo hàm logarit của áp lực âm thanh; trường độ tính bằng mili giây (ms).
  • Khung cấu trúc âm tiết: Tiếp thu mô hình cấu trúc âm tiết tầng bậc của Đoàn Thiện Thuật (1977), xem âm tiết tiếng Việt gồm thành phần siêu đoạn tính (thanh điệu bao trùm) và các thành phần đoạn tính (âm đầu, âm chính, âm cuối).

Bảng đối chiếu tần số F1 và F2 của 9 nguyên âm đơn tiếng Việt độc lập theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Ái (1973) được luận án sử dụng làm căn cứ tham chiếu:

Nguyên âm Vùng tần số F1 (Hz) Vùng tần số F2 (Hz)
/i/ 250 - 420 2380 - 3360
/ê/ 354 - 595 2000 - 2830
/e/ 595 - 840 1630 - 2380
/ư/ 250 - 420 840 - 1190
/ơ/ 354 - 595 1000 - 1190
/a/ 707 - 1000 1190 - 1410
/u/ 250 - 420 595 - 840
/ô/ 354 - 595 707 - 1000
/o/ 595 - 707 840 - 1000

Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực nghiệm:

  • Phương pháp: Sử dụng phương pháp miêu tả kết hợp ngữ âm học thực nghiệm, cùng các thủ pháp thống kê và so sánh âm học.
  • Quy trình thu âm: Thực hiện trong phòng thu cách âm của Đài Tiếng nói Việt Nam (độ ồn nền 1 dB), sử dụng microphone SHURE SM 58 đặt cách miệng 5-10 cm. Tín hiệu được ghi âm trực tiếp bằng phần mềm CoolEdit Pro, số hóa 16-bit Mono ở tần số lấy mẫu 11.025 Hz.
  • Công cụ phân tích: Sử dụng phần mềm phân tích ngữ âm Praat để hiển thị dạng sóng, phổ âm (spectrogram), trích xuất các đường nét formant (F1, F2, F3, F4) và đo các tham số âm học theo các bước đo cách đều 10 ms. Trên mỗi ảnh phổ, xác định hai điểm mốc: điểm bắt đầu đỉnh chuyển tiếp (ranh giới phụ âm - nguyên âm) và điểm kết thúc chuyển tiếp (khi formant ổn định). Dữ liệu sau xử lý được xuất sang Excel để tính toán thống kê và vẽ biểu đồ.
  • Tư liệu và mẫu khảo sát: 6 cộng tác viên (3 nam, 3 nữ) là phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam, nói giọng Hà Nội chuẩn, độ tuổi 30-40. Tổng số mẫu âm tiết khảo sát là 1.134 mẫu, phân bố qua 5 kiểu cấu trúc:
    1. Cấu trúc 1 (V): 9 nguyên âm × 6 thanh điệu × 6 CTV = 324 mẫu.
    2. Cấu trúc 2 (CV - âm đầu tắc): 3 phụ âm /p, t, k/ × 9 nguyên âm × 6 CTV = 162 mẫu.
    3. Cấu trúc 3 (CV - âm đầu mũi): 3 phụ âm /m, n, ŋ/ × 9 nguyên âm × 6 CTV = 162 mẫu.
    4. Cấu trúc 4 (VC - âm cuối mũi): 3 phụ âm /m, n, ŋ/ × 9 nguyên âm × 6 CTV = 162 mẫu.
    5. Cấu trúc 5 (VC - âm cuối tắc): 3 phụ âm /p, t, k/ × 9 nguyên âm × 2 thanh điệu (sắc, nặng) × 6 CTV = 324 mẫu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí thuyết

Chương 1 tổng thuật các nghiên cứu về formant nguyên âm trên thế giới và ở Việt Nam, hệ thống hóa giải phẫu bộ máy phát âm, các đặc trưng vật lý âm thanh (sóng âm, F0, dB, ms), cơ chế cấu âm nguyên âm và phụ âm, cùng 8 mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học.

Chương 2: Mối quan hệ giữa formant của nguyên âm và thanh điệu

Chương này tập trung phân tích sự tác động của tần số cơ bản F0 và các thanh điệu lên cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn tiếng Việt:

  • Tác động lên trường độ: Thanh điệu chi phối trực tiếp đến trường độ của nguyên âm. Các thanh bằng (huyền, ngang) có trường độ dài hơn rõ rệt so với các thanh trắc. Trật tự trường độ nguyên âm theo thanh điệu giảm dần từ dài đến ngắn như sau: Huyền > Ngang > Ngã > Sắc > Hỏi > Nặng.
  • Kết hợp với thanh huyền, nguyên âm đạt trường độ dài nhất (322 - 408 ms ở nam; 368 - 415 ms ở nữ). Kết hợp với thanh nặng, nguyên âm có trường độ ngắn nhất (158 - 197 ms ở nam; 165 - 227 ms ở nữ).

Dữ liệu đo đạc thực nghiệm trường độ nguyên âm theo thanh điệu được tổng hợp trong hai bảng sau:

Bảng 2.1: Trường độ nguyên âm trong kết hợp với thanh điệu ở nhóm CTV Nam (đơn vị: ms)

Nguyên âm Thanh Huyền Thanh Ngang Thanh Ngã Thanh Sắc Thanh Hỏi Thanh Nặng
/i/ 371 363 313 256 267 158
/ê/ 332 324 301 257 233 184
/e/ 357 352 301 258 220 178
/ư/ 331 328 300 274 254 176
/ơ/ 339 333 276 276 254 167
/a/ 322 317 271 290 222 159
/u/ 341 333 275 258 247 186
/ô/ 345 331 291 289 257 197
/o/ 367 333 288 291 228 160

Bảng 2.2: Trường độ nguyên âm trong kết hợp với thanh điệu ở nhóm CTV Nữ (đơn vị: ms)

Nguyên âm Thanh Huyền Thanh Ngang Thanh Ngã Thanh Sắc Thanh Hỏi Thanh Nặng
/i/ 379 328 314 260 259 202
/ê/ 415 353 298 286 276 216
/e/ 368 346 283 299 280 185
/ư/ 394 354 272 264 257 199
/ơ/ 408 363 305 272 288 195
/a/ 407 351 312 288 266 171
/u/ 380 371 289 280 274 187
/ô/ 404 364 322 294 266 227
/o/ 370 367 294 273 259 165

Chương 3: Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm đầu tắc và thanh điệu

Chương 3 khảo sát sự ảnh hưởng của nhóm phụ âm đầu tắc vô thanh /p, t, k/ và nhóm phụ âm đầu mũi /m, n, ŋ/ đến cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn. Nội dung phân tích tập trung vào các phương diện: biến đổi vùng tần số F1-F2, hình thái diễn tiến đường nét chuyển tiếp C1V, trường độ của phụ âm đầu và thời gian quá độ của formant từ điểm bắt đầu đến khi đạt trạng thái ổn định.

Chương 4: Formant của nguyên âm trong kết hợp với âm cuối tắc và thanh điệu

Chương 4 mô tả sự chi phối của nhóm phụ âm cuối tắc vô thanh /p, t, k/ (kết hợp với hai thanh điệu mang tính nghẽn thanh hầu là thanh sắc và thanh nặng) trong tương quan so sánh với nhóm phụ âm cuối mũi /m, n, ŋ/ đối với cấu trúc formant nguyên âm. Phân tích chỉ ra các biến đổi về trường độ nguyên âm trong âm tiết khép, vùng tần số và diễn tiến đường nét chuyển tiếp VC2 khi âm tiết tiến về điểm kết thúc.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập các đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Đóng góp về lý luận:
    • Xác định quy luật biến đổi cấu trúc formant của nguyên âm tiếng Việt khi kết hợp với thanh điệu và âm tắc, được mô tả có hệ thống trên cả ba phương diện: trường độ formant, vùng tần số formant và diễn tiến vùng tần số.
    • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm âm học làm sáng tỏ đặc điểm ngữ âm học của mối quan hệ giữa các đơn vị đoạn tính (nguyên âm, phụ âm) và siêu đoạn tính (thanh điệu) trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, đóng góp vào lý thuyết âm vị học loại hình ngôn ngữ đơn lập.
  • Đóng góp về thực tiễn:
    • Mô hình hóa và xác định hệ thống tham số âm học định lượng đặc trưng cho vùng quá độ giữa formant và âm tắc, giữa formant và thanh điệu.
    • Cung cấp cơ sở dữ liệu tham số ngữ âm thực nghiệm phục vụ trực tiếp cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng của các hệ thống nhận dạng và tổng hợp tiếng nói tiếng Việt.
  • Kiến nghị và giải pháp:
    • Ứng dụng các quy luật chuyển tiếp formant và tham số trường độ thực nghiệm vào các thuật toán tổng hợp formant trong các hệ thống tự động trả lời, xử lý giọng nói tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi tư liệu mới giới hạn trên 9 nguyên âm đơn dài tiếng Việt, chưa mở rộng khảo sát các nguyên âm ngắn và nguyên âm đôi.
  • Mẫu thực nghiệm tập trung vào 6 phát thanh viên chuẩn giọng Hà Nội trong độ tuổi 30-40, chưa bao quát các nhóm tuổi khác và các vùng phương ngữ khác.
  • Dữ liệu thu thập từ bảng từ đọc chuẩn trong phòng thu, chưa khảo sát lời nói tự nhiên trong ngữ cảnh hội thoại liên tục.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các phong cách nói khác nhau trong chuỗi lời nói liên tục.
  • Khảo sát mở rộng trên các vùng phương ngữ tiếng Việt khác nhau và các nhóm cá nhân thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau.
  • Ứng dụng các tham số âm học vào lĩnh vực giám định âm thanh lời nói tiếng Việt.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ âm học tiếng Việt và Ngôn ngữ học so sánh: Giá trị tham khảo nằm ở khung lý thuyết phân tích âm tiết tầng bậc và phương pháp nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm sử dụng phần mềm Praat.
  • Kỹ sư công nghệ thông tin, chuyên gia xử lý ngôn ngữ tự nhiên và tiếng nói: Tham khảo trực tiếp bộ thông số F1, F2, trường độ và diễn tiến chuyển tiếp formant để tinh chỉnh các mô hình âm học trong nhận dạng và tổng hợp giọng nói tiếng Việt.
  • Chuyên viên âm học và giám định tư pháp: Tham khảo các đặc trưng âm học cá thể và vùng tần số phục vụ công tác giám định âm thanh lời nói.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc âm tiết tiếng Việt được luận án lựa chọn làm khung phân tích dựa trên mô hình của tác giả nào?
Luận án lựa chọn mô hình cấu trúc âm tiết tầng bậc kết hợp cả yếu tố đoạn tính và siêu đoạn tính được trình bày bởi tác giả Đoàn Thiện Thuật trong công trình Ngữ âm tiếng Việt (1977) làm cơ sở phân tích.

2. Quy luật tác động của thanh điệu lên trường độ nguyên âm được xác lập như thế nào?
Trường độ nguyên âm khi kết hợp với thanh điệu giảm dần theo trật tự: Huyền > Ngang > Ngã > Sắc > Hỏi > Nặng. Nguyên âm kết hợp với thanh huyền có trường độ dài nhất (322 - 408 ms ở nam; 368 - 415 ms ở nữ), và kết hợp với thanh nặng có trường độ ngắn nhất (158 - 197 ms ở nam; 165 - 227 ms ở nữ).

3. Luận án sử dụng những công cụ phần mềm và thông số kỹ thuật nào trong quy trình thu âm và xử lý dữ liệu?
Luận án sử dụng phần mềm CoolEdit Pro để thu âm với tín hiệu số hóa 16-bit Mono, tần số lấy mẫu 11.025 Hz trong phòng thu cách âm (độ ồn 1 dB) qua microphone SHURE SM 58. Phần mềm Praat được dùng để phân tích dạng sóng, ảnh phổ, đo đạc F1, F2, F3, F4 và cường độ theo các bước đo cách đều 10 ms.

4. Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án bao gồm bao nhiêu kiểu cấu trúc âm tiết và tổng số bao nhiêu mẫu âm?
Mẫu khảo sát gồm 5 kiểu cấu trúc âm tiết (V, CV âm đầu tắc, CV âm đầu mũi, VC âm cuối mũi, VC âm cuối tắc) thực hiện trên 6 phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam, với tổng số 1.134 mẫu âm tiết.

5. Theo kết quả thực nghiệm của Nguyễn Văn Ái (1974) được dẫn trong luận án, nguyên âm đơn tiếng Việt có bao nhiêu formant?
Theo công trình của Nguyễn Văn Ái (1974) phân tích trên máy xônagorap với 1.300 đơn vị âm tiết, các nguyên âm đơn tiếng Việt có từ 2 đến 5 formant, trong đó nguyên âm /u/ thường xuất hiện 1 đến 2 formant, các nguyên âm khác có từ 4 đến 5 formant nhưng formant thứ 4 và thứ 5 có cường độ rất yếu.

Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu ngữ âm học thực nghiệm khảo sát định lượng cấu trúc formant của 9 nguyên âm đơn tiếng Việt trong mối quan hệ với thanh điệu và phụ âm tắc. Thông qua quy trình thực nghiệm trên 1.134 mẫu âm tiết với sự hỗ trợ của phần mềm Praat, nghiên cứu đã xác lập các quy luật biến đổi về trường độ, vùng tần số và diễn tiến chuyển tiếp của formant trong các cấu trúc âm tiết khác nhau. Kết quả của luận án đóng góp cứ liệu thực nghiệm cho lý thuyết cấu trúc âm tiết tiếng Việt và cung cấp hệ thống tham số âm học phục vụ công nghệ xử lý, nhận dạng và tổng hợp tiếng nói.