Chương 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÂU DU LICH DEM 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Cau du lịch Trong các ấn phẩm khoa học về du lịch người ta thừa nhận rằng, nếu xét trên tổng thể các nhu cầu của con nguoi, về thực chất nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt và tổng hợp của con người.
Nhu cầu này được hình thành và phát triển trên nền tang của nhu cầu sinh lý (sự đi lại) va các nhu cầu tinh thần (nhu cầu nghỉ ngơi, tự khăng định, nhận thức, giao tiếp), (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà, 2006)[10]. Bên cạnh đó, cầu du lịch là phạm trù kinh tế biêu hiện nhu cầu du lịch về hàng hoá vật chất và dịch vụ du lịch được đảm bảo băng khối lượng tiền tệ với giá cả nhất định. Nói một cách khác, cầu du lịch là nhu cầu du lịch có khả năng thanh toán của con người về dịch vụ, hàng hoá. Có thể có nhu cầu du lịch nhưng không có sự đảm bảo băng tiền tức là không có khả năng thanh toán để biến chúng thành của cải vật chất và tinh thần theo giá cả nhất định của hàng hoá du lịch thì không xuất hiện “cầu” (Nguyễn Văn Lưu, 1998)[19].
Trong những những thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu du lịch trên toàn thế giới. Du lịch ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế toàn thế giới (Bo Peng và cộng sự, 2015)[59]. Năm 2019, du lịch chiếm 10,3% GDP toàn cầu (WTTC,2020)[72]. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu du lịch từ rất sớm, đó là các nghiên cứu của Menges (1958) bằng tiếng Đức va Guthrie (1961) bang tiếng Anh (Haiyan Song và cộng sự, 2019)[68].
Theo Trần Đức Thanh (2017) nhu cầu du lịch là phạm trù tâm lý xã hội. Để được thoả mãn nhu cầu du lịch cần phải có khả năng thanh toán cho các dịch vụ liên quan. Lúc đó nhu cầu du lịch sẽ trở thành cầu du lịch, tức là chuyển từ phạm trù tâm lý xã hội sang phạm trù kinh tế [25]. Các nhà kinh tế học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cầu du lịch trong suốt những năm qua.
Do cau là nhu cầu có khả năng thanh toán nên hầu hết các tác giả đều đưa biến giá cả và thu nhập vào mô hình nghiên cứu. Lý do chính là khả năng chi trả phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập của khách du lịch, bên cạnh đó giá cả hàng hóa, dịch vụ cao sẽ là cho khả năng chi trả bị hạn chế và ngược lại. Đối với khách du lịch quốc tế, nhiều tác giả còn chỉ ra tỷ giá hối đoái cũng là yếu tố quan trọng có tác động đến khả năng chỉ trả của khách du lịch. Bên cạnh các biến này, một số tác giả còn đưa các biến khác như chi phí sinh hoạt, chi phí du lịch, chi phí vận chuyền, quốc tịch, xu hướng tiêu dùng, marketing, thời gian du lịch, loại hình du lịch v.
Tổng hợp một số mô hình nghiên cứu về cầu du lịch STT | Tên tác giả | Các biến nghiên cứu của câu |Mô hình, phương du lịch pháp nghiên cứu - Số lượng khách du lịch; - Chi phí sinh hoạt; Christine A. | - Chi phí du lịch; h Martin — & | - Chi phí cho các ngày lễ; Mô hình hồi quy Stephen F. | - Chi phí vận chuyên; tuyên tính logarit Witt (1988) | - Tỷ giá hối đoái; - Quốc tịch; - Thu nhập. - Thu nhập; - Gid cả; Geoffrey I.
| - Ty giá hối đoái; ¬ - 2 | Crouch - Chi phí vận chuyển; Mô hình sử dụng dữ s. ; ; liệu chuỗi thời gian (1994) - Tiêp thị (Marketing); - Xu hướng và thời trang; - Các sự kiện đặc biệt. Pilar Gonzalez, - Thu nhap; Mô hình chuỗi thời Paz Moral | - Giá cả. (1995) - Chi tiêu của khách du lịch; Mô hình sử dụng dữ Christine - Thu nhap; liệu không gian, dữ Lim (1997) | - Giá cả; liệu bảng và dữ liệu - Chi phí vận chuyền.
chuỗi thời gian Haiyan Song, Stephen F. | - Thu nhập; Mô hình hồi quy Witt and | - Giá cả. tuyến tính logarit Gang Li (2003) Haiyan Song, Gang | - Số lượng khách du lịch; Li, Stephen | - Chi tiêu của khách du lịch; Mô hình hồi quy F. Witt, Bao | - Thu nhập của khách du lịch; | tuyến tính logarit Gang Fei | - Giá cả hàng hoá.
(2010) - Thời gian đi du lịch; - Nguyên nhân đi du lịch; Nguyễn - Mục đích đi du lịch; x. Mô hình hôi quy Quôc Nghi | - Hình thức đi du lịch; , - TS sa - - tuyên tính Logarit (2011) - Dia điêm di du lịch; - Loại hình du lịch; - Chi phí cho chuyến du lịch. João Paulo|- Thu nhập bình quân đầu Cerdeira người thực tế; Mô hình hồi quy Bento - Chi phí sinh hoạt; tuyến tính (2014) - Chi phí vận chuyền; - Các yêu tố phi kinh tế. Bo Peng, Haiyan Song, _ x.
- Độ co giãn của thu nhập; Mô hình hôi quy 9 |Geoffrey I. i oo , - Độ co giãn của giá cả. Witt (2015) Jaume 10 Rossello “- - Lượng khách du lịch; Mô hình hồi quy Nada, Jianan | - Chi tiêu của khách du lịch. tuyên tính HE (2019) Meng- Chang Jong, Chin-Hong | - Thu nhập của khách du lịch; | Phân tích tổng hop, II | Puah, - Chi phí vận chuyên; sử dụng dữ liệu bảng Mohammad | - Giá du lịch.
Affendy Arip (2020) Nguồn: Tổng hợp của tác giả Nhìn chung các tác giả đã đưa ra nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau về nhu cầu du lịch cũng như cầu du lịch. Nếu như Pilar González, Paz Moral (1995)[45]; Haiyan Song, Stephen F. Witt and Gang Li (2003)[50]; Bo Peng, Haiyan Song, Geoffrey I. Crouch (1994)[43] đưa thêm ra rất nhiều yếu tố trong nghiên cứu về cầu du lich của mình như số lượng du khách, các chi phí sinh hoạt, chi phi du lịch, chi phí cho các ngày lễ, chi phí vận chuyền, tỷ giá hối đoái, quốc tịch, tiếp thị, các sự kiện đặc biệt.
Christine Lim (1997)[51] và Haiyan Song, Gang Li, Stephen F. Witt, Bao Gang Fei (2010)[66] có chung quan điểm nghiên cứu về cầu du lịch của du khách bao gồm các yếu tổ chi tiêu của du khách, thu nhập của du khách và giá cả hàng hoá. Jaume Rossello“-Nada, Jianan HE (2019)[61] cho rang lượng khách du lich va chi tiêu cua khách du lịch là những yếu tố quan trọng trong nghiên cứu nhu cầu du lịch. Nguyễn Quốc Nghi (2011)[21] thì cho rằng dé nghiên cứu cầu du lịch thì cần phải nghiên cứu các tiêu chí như thời gian đi du lịch, nguyên nhân đi du lịch, mục đích đi du lịch, hình thức đi du lịch, địa điểm đi du lịch, loại hình du lịch và chi phí cho chuyến du lịch.
Xu hướng của cau du lịch Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà (2006) [10] , cầu du lịch có 6 nhóm xu hướng phát triển đó là: - Du lịch ngày càng được khang định là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến, - Sự thay đổi về hướng và về phân bố của luồng khách du lịch quốc tế, - Sự thay đổi trong cơ cấu chỉ tiêu của du khách, - Sự thay đối trong hình thức tổ chức chuyên đi của du khách, - Sự hình thành các nhóm khách hàng theo độ tudi, - Sự gia tăng các điểm đến trong một chuyến đi du lịch. Xu hướng du lịch cho thấy được sự tăng trưởng cũng như sự thay đổi nhu cầu du lịch tại các điểm đến. Qua đó chúng ta có thê thấy rằng dự đoán được xu hướng du lịch sẽ giúp ích rất nhiều trong việc tìm ra hướng đi mới cho ngành du lich của các nhà kinh doanh du lịch cũng như chính quyền sở tại liên quan. Việc tạo ra các sản phâm du lịch mới cùng với việc xây dựng các tuyến du lich phù hợp sẽ thu hút, hấp dẫn rất nhiều du khách trong và ngoài nước.
Oscar Claveria và cộng sự (2015)[42] đã sử dung Artificial Neural network (ANN) (Mang No — ron nhân tạo) dé danh giá các xu hướng về lượng khách du lịch từ các thị trường khách đến Catalonia (Tây Ban Nha), 10 thông qua đó có thể dự đoán được nhu cầu của khách du lịch. Catalonia là một vùng của Tây Ban Nha, sau Pháp và Hoà Kỳ thì nước này là điểm đến quan trọng nhất của thế giới với gần 65 triệu lượt khách du lịch trong năm 2014. Catalonia nhận được 25% tông lượng khách đến Tây Ban Nha. Chi tiêu cho du khách ở Catalonia đã tăng 14% trong năm 2014.
Hoạt động từ du lịch đã đóng góp 12% vào GDP và cung cấp việc làm cho 15% dân số ở Catalonia. Những con số này cho thấy tầm quan trọng của việc nhìn thấy được xu hướng du lịch, dự báo được nhu cầu du lịch ở cấp độ điểm đến cho các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia trong ngành du lịch. Tác gia Giorgio Ribaudo and Paolo Figini (2016)[60] trong bài nghiên cuu “The Puzzle of Tourism Demand at Destinations Hosting UNESCO World Heritage Sites: An Analysis of Tourism Flows for Italy” đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về các xu hướng xu lịch dang diễn ra tại các Di sản thé giới được UNESCO công nhận. Bài viết đã phân tích 16 Di sản Thế giới (WHS) của nước Ý va chỉ ra các xu hướng trong nhu cầu về dịch vụ khách sạn, so sánh nhu cầu du lịch của du khách trước và sau khi các Di sản Thế giới này được UNESCO công nhận.
Việc được công nhận là Di sản Thế giới đã thúc đây nhu cầu đi du lịch của du khách, tạo ra một xu hướng du lịch tích cực đối với các điểm đến đó. Tuy nhiên, có những WHS không thu hút được du khách do khả năng tiếp cận và cơ sở hạ tầng của điểm đến đó. Tại một số WHS, tốc độ tăng trưởng nhu cầu du lịch sau 5 năm được công nhận là Di sản Thế giới lại thấp hơn so với 5 năm trước đó. Các nhà hoạch định chính sách của điểm đến cần hiéu rõ răng WHS đôi khi chỉ là một điểm đến lý tưởng cho một phân khúc khách du lịch cụ thể chứ không phải tất cả các phân khúc khách hàng.
Nói cách khác, WHS tạo ra sự thay đối về hướng và về phân bố của luồng khách du lịch quốc tế. Do đó, họ cần đưa ra một chính sách du lịch hợp lý, xây dựng một sản phẩm du lịch, kết hợp với quảng cáo, tiếp thị, bién II WHS thành một lợi thế cạnh tranh, tạo ra một xu hướng du lịch tích cực và đạt nhiều hiệu quả cho điểm đến đó.