Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch Chương 2. Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn huyện N am Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn huyện N am Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế 5 PHẦ II.
ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ PHÁT TRIỂ DU LNCH 1. CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ DU LNCH VÀ PHÁT TRIỂ DU LNCH 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm du lịch Hoạt động du lịch xuất hiện rất sớm trong đời sống con người dưới nhiều hình thức khác nhau và bắt đầu phát triển mạnh từ thế kỷ XIX.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động này đang trở thành hiện tượng phổ biến, không chỉ mang lại lợi ích tinh thần cho con người mà còn trở thành một ngành công nghiệp siêu lợi nhuận, góp phần vào sự phần thịnh cho sự phát triển của nhiều quốc gia. [2] N ghiên cứu khái niệm du lịch có thể hiểu tiếp cận trên hai khía cạnh: (1) Là một hoạt động tham quan, khám pháp và trải nghiệm của các chủ thể; (2) du lịch là một ngành nghề, là tập hợp các hoạt động kinh doanh tạo nên ngành du lịch, cụ thể: Trên phương diện thứ nhất, du lịch được nghiên cứu trên khía cạnh là một hoạt động, là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người. Khái niệm về du lịch đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề xuất, như: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UN WTO), DL được hiểu là: Bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. DL cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
N hư vậy, có thể hiểu hoạt động du lịch được làm rõ bởi 03 nội dung: Thứ nhất, những di chuyển đến những nơi khách môi trường sống thường xuyên của cá nhân; Thứ hai, mục đích không phải để kiếm tiền; Thứ ba, thời gian không quá một năm. [20] Theo Luật Du lịch Việt N am, 2017, khái niệm du lịch có thể hiểu là: Du lịch 6 là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghĩ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. [6] N hững quan điểm trên cho thấy nội hàm khái niệm du lịch hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch, như: thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí… mà không bàn đến hoạt động kinh doanh du lịch, lợi ích kinh tế hay các quan hệ trao đổi về kinh tế. Các khái niệm đều hướng đến thể hiện cùng một bản chất: Du lịch là hoạt động của chủ thể ra khỏi môi trường sinh sống thường xuyên; được xác định về mặt thời gian dưới một năm và mục đích của hoạt động này không phải để kiếm sống.
Trên phương diện thứ hai, du lịch là một ngành nghề, là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ nhu cầu con người từ đó tạo nên ngành du lịch. Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ cho việc thực hiện các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của người đi du lịch, thông qua việc tổ chức các hoạt động: phục vụ vận chuyển; lưu trú ăn uống, hướng dẫn tham quan,… Tất cả những hoạt động nêu trên tạo nên ngành du lịch. Du lịch được ví như một ngành "công nghiệp không khói", đối với các nước đang phát triển, du lịch được xem là ngành cứu cánh để khôi phục và phát triển nền kinh tế của các quốc gia. Tác giả N guyễn Văn Mạnh, trong Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành đã định nghĩa du lịch như sau: "Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, thăm quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch.
Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước (địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp" [3] Trên góc độ nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm du lịch theo phương diện thứ hai, theo đó du lịch là một trong những ngành kinh doanh, thuộc khối ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Thông qua khai thác tài nguyên du 7 lịch, tạo ra và cung ứng các sản phN m, dịch vụ du lịch phục vụ nhu cầu của du khách, từ đó góp phần thúc đN y sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương * Đặc điểm của du lịch - Thứ nhất, du lịch có tính tổng hợp, liên ngành và xã hội hóa cao. Du lịch vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, hướng đến phát triển các hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí của du khách. Đồng thời, du lịch vừa mang đặc điểm của ngành văn hóa, xã hội, thông qua khai thác, quảng bá và phát triển các giá trị văn hóa, cùng với sự kết hợp các hoạt động như thể thao, văn hóa và các nhu cầu khác,…N goài ra, sản phN m du lịch đước cấu thành từ một chuỗi dịch vụ, do đó, cần có sự tham gia của các ngành và mọi thành phần trong xã hội.
Vì vậy, Du lịch có tính liên ngành và xã hội hóa cao. - Thứ hai, du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Tất cả các du khách khi tham gia hoạt động du lịch đền mong muốn được tham gia, vui chơi và tìm hiểu các giá trị về thiên nhiên, lịch sử và xã hội của địa phương. N hững địa phương có tài nguyên du lịch càng phong phú, đa dạng và hệ thống hạ tầng phục vụ tốt đề thu hút được sự quan tâm của du khách.
Thông qua quá trình khai thác tài nguyên phục vụ PTDL đã hình thành nên các điểm đến du lịch. - Thứ ba, du lịch có tính thời vụ. Do ảnh hưởng của yếu tố địa lý tự nghiên và thời tiết, khí hậu, nên các hoạt động kinh doanh du lịch có tính thời vụ đặc trưng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nhu cầu của du khách ngày càng phát triển và mở rộng; quá trình toàn cầu hóa; cùng với những chính sách kích cầu của các địa phương, hoạt động du lịch đã diễn ra với cường độ cao hơn, tính chất thời vụ không còn ảnh hưởng nhiều đến hoạt động du lịch như những giai đoạn trước đây.
* Phân loại du lịch. Tiến hành phân loại hoạt động du lịch, có thể phân theo nhiều nhóm khách nhau, tùy thuộc vào những tiêu chí đánh giá được đưa ra. Trên góc độ nghiên cứu của luận văn, tác giả tiếp cận du lịch với ý nghĩa là một ngành kinh doanh, với đặc điểm nổi bật là hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Vì vậy, tác giả tiến hành phân định du lịch trên cơ sở môi trường tài nguyên.
8 Theo Luật Du lịch 2017, Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phjm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại du lịch, có thể hình thành các loại hình: Du lịch cộng đồng; Du lịch sinh thái và Du lịch văn hóa, được quy định rõ trong Điều 3 của Luật Du lịch 2017, cụ thể: [6] Du lịch cộng đồng, là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi. Đây là loại hình du lịch gắn kết việc tham quan danh lam thắng cảnh với các hoạt động văn hóa, xã hội, tìm hiểu cuộc sống của người dân bản địa.
Du lịch dựa vào cộng đồng do chính cộng đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý, làm chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi trường chung thông qua việc giới thiệu với du khách các nét đặc trưng của địa phương. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa của địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. Du lịch sinh thái hay còn gọi là du lịch thiên nhiên, lấy hệ sinh thái tự nhiên làm đối tượng phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoại, thưởng thức những cảnh quan, nghiên cứu về các hệ sinh thái.Thông qua PTDL sinh thái, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế du lịch với quản bá hình ảnh quốc gia. Du lịch văn hóa, là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tông vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại.
Thông qua hình thức du lịch này hướng đến nâng cao hiểu biết của du khách về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - văn hóa – xã hội, lối sống, phong tục tập quán của địa phương. Điểm đến của du khách thường là các di tích văn hóa – lịch sử, bảo tàng, lễ hội của địa phương. Khái niệm phát triển du lịch * Khái niệm phát triển du lịch 9 Phát triển là khuynh hướng vận động của các sự vật, hiện tượng, có hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. N ghiên cứu sự phát triển của bất kỳ một chủ thể, sự vật hay hiện tượng nào đều được đánh giá trên hai khía cạnh: số lượng và chất lượng.
Xét riêng trong ngành du lịch, PTDL là sự phát triển về quy mô, số lượng của cá doanh nghiệp kinh doanh du lịch; số lượng khách du lịch đến lưu trú kể cả trong nước và quốc tế của ngành du lịch.