mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, kiến nghị và phụ lục Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cách ứng phó của ngƣời bệnh nghiện rƣợu với những khó khăn trong cuộc sống Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn Kết luận và kiến nghị - Danh mục các công trình đã công bố của tác giả - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁCH ỨNG PHÓ CỦA NGƢỜI BỆNH NGHIỆN RƢỢU VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG CUỘC SỐNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Thuật ngữ “ứng phó”(coping) đƣợc dịch từ tiếng Anh, xuất hiện ở phƣơng Tây và Mỹ vào những năm 50 của thế kỷ trƣớc.
Ban đầu khái niệm ứng phó (coping) đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu về các sang chấn tâm lý (stress) để biểu thị phƣơng thức tự vệ của các nghiệm thể trong các tình huống có sang chấn. Về sau thuật ngữ “ứng phó” đã đƣợc sử dụng trong các công trình nghiên cứu về các thời kỳ khủng hoảng liên quan tới các bệnh kinh niên, nan y mãn tính. Trong những hoàn cảnh đó mỗi bệnh có thể đƣợc tiếp nhận nhƣ một tác nhân gây sang chấn cần đƣợc vƣợt qua bằng cách thích nghi cơ thể với các điều kiện sống, làm sao để cơ thể có thể tiếp tục phát triển trong một trật tự nhất định. Vào năm 1974, lần đầu tiên công bố những kết quả nghiên cứu liên quan đến các vấn đề nhƣ là cấu trúc của sự “ứng phó”, cũng nhƣ các đặc điểm cá nhân của sự thích nghi và các cách ứng phó với những bệnh nan y mãn tính.
Từ những năm 80, ở Mỹ, khái niệm “ứng phó” đã trở nên quen thuộc không chỉ với các nhà tâm lý mà còn cả với các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác, những ngƣời quan tâm nghiên cứu hành vi của con ngƣời. Một số tác giả cho rằng hành vi ứng phó có tính chất ổn định và đƣợc coi nhƣ một thiên hƣớng ứng xử (Carver, Scheier, Weintraub,1989). Theo các tác giả này, con ngƣời có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau (đó là quan điểm của các nhà tâm lý học nhân cách [44]. Tuy nhiên, nhiều tác giả khác lại cho rằng hành vi ứng phó có tính chất tình huống rõ rệt, chịu ảnh hƣởng từ chính cách nhìn nhận, đánh giá tình huống của con ngƣời ngay trong thời điểm xảy ra tình huống đó (quan điểm của các nhà tâm lý học xã hội) [78].
8 Nhƣ vậy, mục đích nghiên cứu của các tác giả này nhằm tìm ra những khuôn mẫu ứng phó có hiệu quả với những tình huống, hoàn cảnh nhất định để có thể giúp những ngƣời rơi vào hoàn cảnh đó có cách ứng phó phù hợp. Có thể tổng hợp các xu hƣớng nghiên cứu vấn đề này thành các nhóm: Nghiên cứu các phương pháp đo hành vi ứng phó: Đây là một hƣớng nghiên cứu ứng dụng rất hiệu quả. Những test nhằm xác định con ngƣời ứng phó ra sao trƣớc mọi tình huống đều kế thừa những thuyết trƣớc. Trắc nghiệm Cách ứng phó (Way of coping) do Folkman và Lazarus phát triển vào năm 1980 là một trong những công cụ hay đƣợc tham khảo nhất, trong đó tác giả đo hai kiểu ứng phó tổng hợp nhất là ứng phó tập trung vào cảm xúc và ứng phó tập trung vào vấn đề.
Theo xu hƣớng này, mục đích của cách ứng phó thứ nhất là làm giảm mức độ căng thẳng của con ngƣời khi họ rơi vào tình huống khó khăn, chú ý nhiều đến cảm xúc cá nhân. Còn mục đích của cách ứng phó thứ hai là nhằm đến việc giải quyết vấn đề hoặc định hƣớng làm một việc gì đó để thay đổi hoàn cảnh. Trong thực tế, cách ứng phó của con ngƣời còn phong phú hơn, vì vậy các nhà nghiên cứu bổ sung thêm các kiểu ứng phó khác; năm 1989 trắc nghiệm COPE ra đời của Carver, Sheier, Weintraub. Trong trắc nghiệm này, các tác giả đã đề nghị 5 thang đo là những khía cạnh khác nhau của cách ứng phó tập trung vào vấn đề (ứng phó tích cực, lập kế hoạch, che dấu hoạt động cạnh tranh, tìm kiếm chỗ dực xã hội, kiềm chế), 5 thang đo về cách ứng phó tập trung vào cảm xúc (tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, diễn giải dƣơng tính, chấp nhận , phủ nhận, đi theo tôn giáo) và 3 thang đo cách ứng phó đƣợc cho là không hữu ích (hành vi tiêu cực, quá nhấn mạnh vào cảm xúc, tinh thần tiêu cực).
Đây là một trong những trắc nghiệm đƣợc sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về hành vi ứng phó bởi sự phong phú của nó. Ngoài ra còn những trắc nghiệm Bảng kê cách ứng phó thƣờng ngày DCI (Daily coping inventory) của Stone và Neale (1984), trắc nghiệm cách ứng phó nâng cấp (Way of coping revised) của Folkman và Lazarus. Một số tác giả kết hợp chọn lọc nhiều trắc nghiệm khác nhau trong nghiên cứu của mình tạo nên bộ trắc nghiệm mới (Stone A. ) 9 Nhƣ vậy, có thể thấy khuynh hƣớng này là một hƣớng mở cho nhiều nhà nghiên cứu khác nhau khai thác và phát triển.
Nghiên cứu về các nhân tố có mối liên quan với hành vi ứng phó Với mục đích tìm kiếm cơ chế của hành vi ứng phó, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu mối quan hệ của ứng phó với một loạt các nhân tố khác nhau. Hành vi ứng phó với sự kiện cuộc sống, với trải nghiệm cá nhân đƣợc các tác giả quan tâm (Zeidner M. Một số tác giả cho rằng cá nhân có những trải nghiệm sớm thƣờng có kiểu ứng phó dồn nén, ức chế khi chúng gặp lại quang cảnh của sự kiện cũ đặc biệt là những sự kiện liên quan đến quan hệ gia đình. Việc trải nghiệm những sự kiện âm tính là nhân tố trung gian giữa căng thẳng và cách ứng phó của con ngƣời với hoàn cảnh khó khăn.
Theo Lazarus đánh giá về hoàn cảnh là quá trình đầu tiên của cách ứng xử con ngƣời, nghiên cứu về mối liên quan của những đánh giá về tình huống khó khăn đƣợc nhiều tác giả quan tâm (Terry D. Theo các tác giả này, việc con ngƣời ứng xử nhƣ thế nào trong hoàn cảnh khó khăn thƣờng chịu ảnh hƣởng của việc họ đánh giá về chính hoàn cảnh đó, tình huống đó nhƣ thế nào. Một đặc điểm của nhân cách - tính thần kinh (Neuroticism) có vai trò đối với hành vi ứng phó (Gunthert K., 1999: Lazarus, Folkman, 1984) đƣợc quan tâm nghiên cứu cùng lúc với sự phát triển trở lại của dòng lý thuyết đặc điểm nhân cách trong những năm gần đây. Các nhà nghiên cứu cho rằng, tính nhạy cảm tham gia vào mọi giai đoạn của quá trình hình thành hành vi ứng phó của con ngƣời trong những hoàn cảnh gây căng thẳng, từ việc tri giác, đánh giá hoàn cảnh, huy động các nguồn lực ứng phó đến việc áp dụng các chiến lƣợc ứng phó nhất định và đánh giá hậu quả của các cách ứng phó đã đƣợc lựa chọn.
(1991), nghiên cứu mối liên quan đánh giá về tình huống khó khăn, nhận thức các khía cạnh khác nhau của stress với hành vi ứng phó. Theo họ, việc con ngƣời ứng xử nhƣ thế nào trong hoàn cảnh khó khăn thƣờng chịu ảnh hƣởng của việc họ đánh giá về chính hoàn cảnh đó, tình huống đó [100]. (1998), tiếp cận nghiên cứu mối liên quan của cách ứng phó với tính lạc quan và bi quan. Tính lạc quan có quan hệ với khuynh hƣớng sử dụng cách ứng phó tập trung vào giải quyết vấn đề, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, thể hiện những khía cạnh dƣơng tính trong tình huống stress; ngƣợc lại tính bi quan thƣờng đi kèm với xu hƣớng ứng phó nhƣ phủ nhận hoặc tránh xa tình huống stress, tập trung trực tiếp vào những cảm giác stress của mình [99].
Mối quan hệ giữa việc trải nghiệm những xúc cảm âm tính, kiểu lý giải có tính chất bi quan trƣớc các sự kiện của cuộc sống và hành vi ứng phó cũng đƣợc quan tâm tìm hiểu. Các tác giả cho rằng, có một mối liên hệ đặc biệt chặt chẽ giữa mức độ trải nghiệm xúc cảm với cách con ngƣời ứng phó trƣớc những hoàn cảnh khó khăn. Nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng kiềm chế tâm lý và cách ứng phó có hiệu quả do các tác giả Bandura, 1977; S.Cohen và Edwards, 1989; Taylor, Redd và Skokan, 1991; S. Wallston, Smith và Dobbin, 1987 nghiên cứu.
Một số đặc điểm của nhân cách có mối liên quan với hành vi ứng phó nhƣ tính tự tin, tự chủ, tính trách nhiệm, sẵn sàng trải nghiệm. do Holahan và Moos, 1987, 1990, 1991; Worden và Sobel, 1978; Friedman, 1993. Các tác giả này cho rằng các đặc điểm nhân cách là nguồn lực chính của hành vi ứng phó [67]. Nghiên cứu vai trò của tôn giáo, niềm tin và ảnh hƣởng của nó đến với hành vi ứng phó cũng nhƣ cảm giác bình an của con ngƣời đó là tác giả Mahoney.
Ông đã tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu khác về ý tƣởng cho rằng kỹ năng ứng phó với hoàn cảnh khó khăn của cá nhân đƣợc khích lệ bởi gia đình, bạn bè và cha cố trong nhà thờ. Từ đó, ông nghiên cứu vai trò của tôn giáo đối với cách con ngƣời 11 ứng xử với hoàn cảnh khó khăn. Ông cho rằng, chính những lời răn dạy của chúa, những lời khuyên của cha cố về sự bình an trong tâm hồn đã hƣớng con ngƣời đến với cách ứng xử nhất định với hoàn cảnh.Cobb, 1976; Cohen và Wills, 1985; Turner và Coates, 1992. nghiên cứu về chỗ dựa xã hội (social support).
Các tác giả nhấn mạnh cảm giác về một chỗ dựa chi phối toàn bộ cách anh ta ứng xử với ngƣời khác, môi trƣờng xã hội cũng nhƣ tình huống khó khăn. Chỗ dựa xã hội là nhân tố trung gian thúc đẩy sự vững tin của con ngƣời, khích lệ con ngƣời thực hiện những hành động hiệu quả trong những tình huống khó khăn. Tóm lại, các nghiên cứu theo khuynh hƣớng này đã cố gắng tìm ra vai trò và ảnh hƣởng của các nhân tố xã hội, cá nhân đối với cách con ngƣời ứng xử trong những tình huống khó khăn. Mức độ quan tâm đến từng loại nhân tố phụ thuộc chặt chẽ vào khung lý thuyết mà các tác giả đã lựa chọn (tâm lý học nhân cách hay tâm lý học xã hội), từ đó đƣa ra cách lý giải phù hợp với khung lý thuyết của mình.
Nghiên cứu về cách ứng phó của một số nhóm có vấn đề Một số tác giả Sumer N., nghiên cứu về cách ứng phó của phụ nữ trong tình trạng bị nạo thai.