ĐẶT VẤN ĐỀ Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (TTHKTM), bao gồm thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) hoặc thuyên tắc phổi, là gánh nặng y tế và tài chính đối với bệnh nhân nội trú. Theo thống kê, có đến một nửa số bệnh nhân nhập viện có nguy cơ TTHKTM [1]. Tỷ lệ TTHKTM dao động từ 10 - 80% ở những bệnh nhân không được điều trị dự phòng [2], [3]. Mặc dù đã có các hướng dẫn thực hành và khuyến cáo dự phòng TTHKTM ở các bệnh nhân nội khoa, tuy nhiên các hướng dẫn này thường không được tuân thủ đúng cách trong thực hành lâm sàng.
Một nghiên cứu khảo sát trên 32 quốc gia cho thấy chỉ có 39,5% bệnh nhân nội khoa có nguy cơ VTE được điều trị dự phòng thích hợp so với 58,5% bệnh nhân phẫu thuật. Tỷ lệ tuân thủ dự phòng phù hợp của bệnh nhân nội khoa dao động từ 3% đến 70%, có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia [4]. TTHKTM là nguyên nhân gây bệnh tật và tử vong có thể phòng ngừa được nhưng thường không được lưu ý ở những bệnh nhân nặng [5]. Các yếu tố nguy cơ làm xuất hiện TTHKTM ở những bệnh nhân này bao gồm bệnh mắc kèm, tình trạng tăng đông máu do bệnh cấp tính, thủ thuật xâm lấn và bất động dài ngày do dùng thuốc an thần cho các bệnh nhân cần can thiệp thông khí hỗ trợ [6].
Việc dự phòng TTHKTM trên bệnh nhân nặng thường đòi hỏi phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ, xác định đối tượng bệnh nhân cần dự phòng và theo dõi các biến cố bất lợi của thuốc xảy ra trong quá trình dự phòng. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về dự phòng TTHKTM trên bệnh nhân nặng hiện vẫn còn hạn chế. Theo một nghiên cứu năm 2022 thực hiện tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện E, đối tượng bệnh nhân cần dự phòng chiếm tỷ lệ cao (74,8%) và tỷ lệ dự phòng không phù hợp chiếm tới 73,9% [7]. Hoạt động của dược sĩ như xây dựng biểu mẫu, cảnh báo kê đơn, lựa chọn và chỉnh liều thuốc chống đông và theo dõi bệnh nhân góp phần cải thiện việc tuân thủ các hướng dẫn và tăng cường dự phòng TTHKTM phù hợp [8].
1 Bệnh viện Bạch mai là bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh, tuyến cuối, hạng đặc biệt, thu dung và điều trị cho nhiều bệnh nhân nặng (cả nội khoa và ngoại khoa) được chuyển đến từ các bệnh viện trong cả nước. Đã có những nghiên cứu về nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới lần đầu và đánh giá hiệu quả dự phòng bằng heparin trọng lượng phân tử thấp (TLPTT) ở bệnh nhân hồi sức nội tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu Nghị [9]. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá về tình hình dự phòng TTHKTM thường quy cũng như việc áp dụng các hướng dẫn trên bệnh nhân hồi sức cấp cứu. Do đó, để thúc đẩy việc áp dụng phác đồ dự phòng chống đông hợp lý thông qua sự phối hợp giữa dược sĩ lâm sàng với bác sỹ điều trị và điều dưỡng trong đánh giá nguy cơ TTHKTM trên bệnh nhân nặng, lựa chọn bệnh nhân dự phòng phù hợp, theo dõi biến cố trong quá trình dự phòng bằng thuốc, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Triển khai dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân nặng thông qua hoạt động dược lâm sàng tại Trung tâm Cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai” với 2 mục tiêu: 1.
Phân tích thực trạng dự phòng TTHKTM tại Trung tâm Cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai. Phân tích kết quả của hoạt động dược lâm sàng trong dự phòng TTHKTM ở bệnh nhân nặng tại Trung tâm Cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai. Tổng quan về thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch 1. Định nghĩa Huyết khối là tình trạng bệnh lý do sự phát động và lan rộng bất thường của phản ứng đông máu của cơ thể dẫn đến hình thành cục máu đông trong lòng mạch và từ đó gây bán tắc hay tắc mạch hoàn toàn lòng mạch.
Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) là tình trạng hình thành cục máu đông gây tắc một phần hoặc hoàn toàn một hoặc nhiều tĩnh mạch. TTHKTM là thuật ngữ chung cho hai thể lâm sàng của cùng một bệnh là tắc động mạch phổi và huyết khối tĩnh mạch sâu các chi. Huyết khối tĩnh mạch sâu hình thành trong các tĩnh mạch sâu ở chân và sau đó các phần tử từ huyết khối bị bong ra, đi theo tĩnh mạch chủ dưới vào buồng tim phải làm tắc nhánh động mạch phổi. Các yếu tố nguy cơ Cơ chế hình thành huyết khối tĩnh mạch là do sự phối hợp của 3 yếu tố (tam giác Virchow) bao gồm ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch, rối loạn quá trình đông máu gây tăng đông và tổn thương thành mạch [10].
TTHKTM hình thành do nhiều yếu tố nguy cơ bao gồm các yếu tố di truyền và các yếu tố nguy cơ mắc phải. Hội Tim mạch học Việt Nam (VNHA) năm 2016 trong hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch đã đưa ra các yếu tố nguy cơ chính của TTHKTM như sau: Bảng 1. Các yếu tố nguy cơ chính của TTHKTM Yếu tố nguy cơ mắc phải Yếu tố nguy cơ di truyền - Mới phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật chỉnh hình. - Thiếu hụt Protein C - Chấn thương: cột sống, tủy sống, chi dưới.
- Thiếu hụt Protein S - Bất động: ví dụ suy tim, đột quỵ - Thiếu hụt Antithrombin III - Ung thư - Đột biến yếu tố V Leyden - Có thai 3 Yếu tố nguy cơ mắc phải Yếu tố nguy cơ di truyền - Điều trị Hormone thay thế, hoặc thuốc tránh thai - Đột biến gen Prothrombin chứa Oestrogen G20210A - Hội chứng thận hư - Hội chứng kháng Phospholipid - Bệnh lý viêm ruột - Tiền sử huyết khối tĩnh mạch Các yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến TTHKTM bao gồm yếu tố không thể thay đổi và có thể thay đổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ không thể thay đổi quan trọng. TTHKTM hiếm gặp khi dưới 45 tuổi nhưng sau đó nguy cơ bắt đầu tăng lên theo cấp số nhân. Cụ thể, nguy cơ TTHKTM tăng hơn 10 lần từ 45- 85 tuổi.
Ngoài ra, tỷ lệ mắc thuyên tắc phổi có hoặc không có huyết khối tĩnh mạch sâu ở người cao tuổi thường cao hơn làm tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do TTHKTM [11]. Béo phì là BNyếu tố nguy cơ có thể thay đổi quan trọng nhất đối với TTHKTM. Bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể (BMI) >30 kg/m2 có nguy cơ mắc TTHKTM cao gấp 2-3 lần so với bệnh nhân có cân nặng bình thường. Chỉ số BMI tăng có tương quan tỉ lệ thuận với nguy cơ mắc TTHKTM [12].
Tỷ lệ béo phì ngày càng tăng hiện nay là nguyên nhân gia tăng nguy cơ TTHKTM trên nhóm bệnh nhân này. Trong các bệnh nhân nội trú, bệnh nhân nội khoa và phẫu thuật có nguy cơ TTHKTM tương đương nhau. Tuy nhiên, trong các loại phẫu thuật thì phẫu thuật chỉnh hình, phẫu thuật thần kinh và phẫu thuật vùng chậu có liên quan đến tỷ lệ mắc TTHKTM cao hơn [13]. Bệnh lý ác tính cũng làm tăng nguy cơ TTHKTM do tình trạng bệnh cũng như các tác nhân điều trị.
TTHKTM trên bệnh nhân ung thư ác tính có liên quan đến tỷ lệ tử vong gần 100% trong vòng 6 tháng và cao gấp hai lần so với bệnh nhân chỉ mắc bệnh ác tính [14], [15]. Các yếu tố nguy cơ khác có thể kể đến tình trạng bất động kéo dài, di chuyển đường dài lâu hơn 4 giờ, phụ nữ mang thai hoặc sử dụng thuốc tránh thai [16]. Tình hình TTHKTM trên bệnh nhân chung và trên bệnh nhân nặng điều trị tại các đơn vị Hồi sức tích cực Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch lần đầu xảy ra với tỉ lệ khoảng 100/100.000 người mỗi năm ở Hoa Kỳ. Nguy cơ này tăng từ dưới 5/100.000 ở người dưới 15 tuổi lên khoảng 500/100.
Một nghiên cứu triển khai ở 6 nước châu Âu cho thấy có khoảng 465.715 trường hợp bị huyết khối tĩnh mạch sâu hàng năm trong đó có 295.982 (63,55%) trường hợp thuyên tắc phổi và 370. Tỷ lệ TTHKTM được ghi nhận tại các quốc gia châu Á cũng có xu hướng ngày càng gia tăng. Nghiên cứu ở Singapore năm 2021 cho thấy tỷ lệ HKTMS là 15,8 trên 100.000 trường hợp nhập viện, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 2,8 và 7,9 trên 100.000 trường hợp vào năm 1990 và 1992 [19]. Nghiên cứu SMART trên bệnh nhân ngoại khoa tại 11 nước thuộc châu Á cho thấy tỷ lệ TTHKTM có triệu chứng, HKTMS và thuyên tắc phổi lần lượt là 1,0%, 0,9% và 0,2% [20].
Các nghiên cứu về huyết khối tĩnh mạch trên bệnh nhân nặng điều trị tại khoa hồi sức tích cực cho thấy tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch ở những bệnh nhân không được dự phòng dao động trong khoảng 13%-31%. Trên bệnh nhân được sử dụng chống đông dự phòng, tỷ lệ mắc HKTMS dao động từ 5,4% đến 23,6% tùy theo từng nhóm bệnh khác nhau [21]. Trong một nghiên cứu trên bệnh nhân HSCC ngoại khoa ở Thái Lan, tỷ lệ mắc HKTMS được phát hiện là 3,6%. Kết quả này tương đồng với một nghiên cứu ở Tehran với tỷ lệ mắc HKTMS ở bệnh nhân nặng là 3,5% [22].
Hai yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến mắc HKTMS là thời gian nằm khoa HSCC kéo dài và tuổi cao [23]. Ở Việt Nam, dữ liệu về tỷ lệ TTHKTM ở bệnh nhân nặng còn khá hạn chế. Tác giả Huỳnh Văn Ân và cộng sự đã khảo sát HKTMS trên 54 bệnh nhân nhập viện điều trị tại khoa HSCC do nguyên nhân bệnh lý nội khoa cấp tính bằng siêu âm Duplex tĩnh mạch hai chi dưới. Kết quả có 46% bệnh nhân gặp HKTMS sau 1 tuần nằm viện và thêm 17% bệnh nhân xuất hiện biến cố ở tuần 5 thứ 2 [24].
Việc chẩn đoán TTHKTM ở khoa HSCC thường khó khăn do việc khai thác và phát hiện triệu chứng bị hạn chế trên bệnh nhân thở máy, hôn mê, sử dụng thuốc an thần. Theo Crowther và cộng sự, có tới 95% trường hợp TTHKTM ở khoa HSCC không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng [25]. Nghiên cứu của William Geerts và Rita Selby về dự phòng TTHKTM ở khoa HSCC chỉ ra tỷ lệ tử vong do HKTMS dao động từ 7% đến 27% [26]. Hậu quả của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng kể.
Gần 1/3 số bệnh nhân được chẩn đoán mắc thuyên tắc phổi thường sẽ tử vong trong vòng 3 tháng kể từ khi xuất hiện. Khoảng 25% bệnh nhân có biểu hiện ban đầu của thuyên tắc phổi bị tử vong do ngừng tim [27].