CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về kinh tế tuần hoàn 1. Khái niệm kinh tế tuần hoàn và nguyên tắc tuần hoàn 1. Khái niệm về kinh tế tuần hoàn Kinh tế tuần hoàn (CE) được đan xen với nhiều khái niệm khác nhau, bao gồm khu công nghiệp sinh thái, mạng lưới công nghiệp sinh thái, và sự cộng sinh công nghiệp.
Tại Mỹ, sau hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển vào năm 1992, Hội đồng Phát triển bền vững đã hình thành ba KCN sinh thái. Từ ba KCN sinh thái này Heeres và cộng sự đã đưa ra nhận định, động lực kinh tế từ phía cơ quan có thẩm quyền được xem như là nhân tố then chốt giúp thúc đẩy mạnh mẽ khu công nghiệp sinh thái phát triển, bên cạnh đó là sự tiếp cận từ dưới lên trên đi cùng với sự tham gia của cả cộng đồng xã hội. Trung Quốc thực hiện về các sáng kiến liên quan đến CE ở cả 3 cấp độ: cấp độ doanh nghiệp, cấp độ khu công nghiệp sinh thái, cấp độ xã hội, các sáng kiến khu công nghiệp sinh thái của Trung Quốc một phần do Chính Phủ chỉ đạo. Tại Trung Quốc, nguyên tắc 3R là hệ tư tưởng cốt lõi, nguyên tắc này đẩy mạnh việc sử dụng vòng đời sản phẩm một cách triệt để, qua đó giảm việc xả thải và tiết kiệm tài nguyên.
Ở mỗi thể chế chính trị khác nhau, văn hóa khác nhau, thì khái niệm CE lại được hiểu và vận dụng khác nhau (Yu F, Han F, Cui Z (2015)). Chẳng hạn, ở châu Á tiêu biểu là các cường quốc như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore mô hình KTTH (CE) ở các quốc gia này lại được vận dụng phát triển không giống nhau. Đối với Nhật Bản và Singapore mô hình thành phố sinh thái được ưa chuộng và phát triển mạnh, thêm vào đó Nhật Bản và Hàn Quốc cho rằng cải thiện sự nhận thức của người tiêu dùng về các sản phẩm được tái chế từ nguyên liệu đã qua sử dụng và các sản phẩm được sản xuất lại từ các linh kiện, bộ phận đã qua sử dụng là điều cần thiết, đồng thời cần đề cao trách nhiệm của người dân đối với việc sử dụng nguyên liệu và chất thải. Trung Quốc đóng vai trò tiên phong trong việc thúc đẩy và triển khai mô hình nền kinh tế tuần hoàn tại khu vực châu Á, với tư tưởng kinh tế tuần hoàn bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên lãnh thổ Trung Quốc từ những năm 90.
Quốc gia này áp dụng mô hình KTTH để phù hợp với tăng trưởng kinh tế và những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên. Đến thập niên 2000, KCN sinh thái được đẩy mạnh phù hợp với khái niệm “xã hội hài 6 hòa” - chủ chương, đường lối phát triển lúc bấy giờ. Tập trung vào tái chế rác thải sau khi tiêu dùng, và phát triển một vòng khép kín do một công ty hoặc một nhóm xử lý và người tiêu dùng với nhau. Đối với Châu Âu, các quốc gia như Anh, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, CE được vận dụng chủ yếu để xử lý rác thải, bên cạnh đó còn nhiều mô hình kinh doanh áp dụng khái niệm kinh tế tuần hoàn vào việc tận dụng hoặc tái sử dụng vật liệu tuần hoàn.
Tại Đức, tư tưởng KTTH đã được lồng ghép vào các chính sách về môi trường nhằm thúc đẩy việc khai thác hiệu quả hơn các nguồn nguyên liệu thô và tài nguyên tự nhiên, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời vẫn duy trì sự tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tại Mỹ và các nước Châu Âu khác, đối tượng áp dụng và thực thi khái niệm CE là các doanh nghiệp, tập đoàn lớn, với chủ chương tăng cường việc giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và tái sản xuất, một trong những chương trình được thực thi là hoạt động nghiên cứu và thiết kế sản phẩm nhằm tăng cường khả năng sử dụng lâu dài và kéo dài tuổi thọ của sản phẩm. Qua đó, KTTH là mô hình kinh tế áp dụng các quy tắc của nguyên lý tuần hoàn vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ, nhằm đạt được tăng trưởng bền vững và giảm thiểu tình trạng khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, cũng như bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, khái niệm về KTTH được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế thừa nhận rộng rãi là khái niệm do Quỹ Ellen MacArthur Foundation (2013) đưa ra tại Hội nghị Kinh tế tuần hoàn.
Quỹ khẳng định KTTH là “một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả các mô hình kinh doanh trong phạm vi của hệ thống đó.” Tại Việt Nam, nhiều nhà kinh tế học cũng đã có công trình nghiên cứu về KTTH và đưa ra các quan niệm về nền kinh tế này. Suy cho cùng, cách họ nhìn nhận đều có điểm tương đồng với các nghiên cứu chung của thế giới. Điển hình theo Trương Thị Mỹ Nhân (2019) thì: “Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường”.
Thêm vào đó tư tưởng về KTTH ở Việt Nam cũng được áp dụng 7 trong mô hình Vườn- Ao- Chuồng (VAC) phổ biến từ những năm 1980 và được coi là hình thức nông nghiệp tuần hoàn đơn giản nhất. VAC đã tạo ra một mô hình sản xuất nông nghiệp tổng hợp, gắn kết trồng trọt với chăn nuôi, hạn chế chất thải, thuận theo tự nhiên và hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, nhìn chung, mô hình KTTH ở Việt Nam hầu hết còn chưa phổ biến, chỉ áp dụng hạn chế trong một số lĩnh vực, một số doanh nghiệp, chưa thực sự tạo ra sức lan tỏa lớn trong cộng đồng sản xuất và cả xã hội. Tóm lại, nhóm nghiên cứu nhận thấy khái niệm về KTTH do Quỹ Ellen đưa ra là vô cùng đúng đắn, do đó nhóm nghiên cứu chấp nhận tuân theo khái niệm này.
Nguyên tắc tuần hoàn Mô hình KTTH được thiết kế dựa trên nền tảng ba nguyên tắc 3R: Giảm thiểu (Reduction), Tái chế (Recycling) và Tái sử dụng (Reuse) (Yuan và cộng sự, 2006). Nguyên tắc "R" đầu tiên - giảm thiểu nhu cầu khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên mới bằng cách sử dụng một cách khôn ngoan và tiết kiệm các nguồn lực hiện có. Trong khi nguyên tắc "R" thứ hai - Tái chế liên quan đến quá trình chuyển hóa chất thải thành nguyên liệu và năng lượng đầu vào cho các quy trình sản xuất mới. Nguyên tắc “R” cuối cùng, bao gồm việc tái sử dụng các sản phẩm và vật liệu sau khi chúng đã hoàn thành chu kỳ sử dụng ban đầu, biến chúng thành đầu vào cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo thay vì loại bỏ chúng.
Nói cách khác, nguyên tắc “3R” tập trung vào thực tế là chất thải sẽ được tái chế và quay trở lại chu trình sản xuất một sản phẩm mới trong nền KTTH. Dựa trên những lập luận trên, chúng ta có thể thấy rằng tái chế giữ vai trò quan trọng trong kinh tế tuần hoàn, bởi nó phụ thuộc vào khối lượng chất thải được tái chế làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm mới. Hiện nay, theo xu hướng phát triển của thời đại, nguyên tắc tuần hoàn được hiểu rộng với nguyên tắc 5R+, nguyên tắc này bao quát, và tiếp cận toàn diện hơn về kinh tế tuần hoàn. Trong nguyên tắc 5R+ hai nguyên tắc được bổ xung là Rethink and Redesign.
Sản phẩm trong nền kinh tế tuần hoàn 1. Đánh giá chung về sản phẩm trong nền KTTH tại Việt Nam Việc phát triển kinh tế tuần hoàn là một vấn đề cấp thiết của nhiều quốc gia. Việt Nam đã sớm ý thức được tầm quan trọng và lợi ích của mô hình này và quyết định thay đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Tuy chưa có hệ thống pháp luật quy định cụ thể nhưng Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình thông qua các chủ trương, văn kiện Đại hội Đảng các khóa, các văn bản pháp luật, các quyết định quy định về hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, hoạt động xử lý rác thải.
Đặc biệt, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở ASEAN đưa quy định về áp dụng kinh tế tuần hoàn vào trong Luật Bảo vệ môi trường với quy định riêng về kinh tế tuần hoàn và nhiều quy định khác để thúc đẩy áp dụng kinh tế tuần hoàn trong tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống 5. Quyết định số 687/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam đã tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, cải thiện năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng xanh gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng tăng cường hiệu quả, góp phần đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng về xã hội. Hiện nay, kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam đang ngày càng phát triển khi có nhiều ngành kinh doanh bắt đầu áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn vào trong quá trình sản xuất. Công nghiệp dệt may - một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam cũng đang tăng cường áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong quá trình sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp đã gia tăng việc sản xuất và xuất khẩu các loại sản phẩm quần áo từ vải tái chế từ chai nhựa, mía, bắp. Trong đó có những sản phẩm 100% từ chất liệu tái chế từ vải, chỉ lẫn bo cổ áo (chẳng hạn như sản phẩm của Công ty CP dệt may - đầu tư - thương mại Thành Công) để đáp ứng xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thân thiện với môi trường của khách hàng tại thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Tương tự, trong ngành đồ uống, nhiều doanh nghiệp cũng dần dần thay thế các sản phẩm tái chế trong các sản phẩm của mình. Các sản phẩm thân thiện với môi trường như ống hút giấy, ống hút gạo, cốc giấy… đang được sử dụng phổ biến hơn.