PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của các cú sốc đến kết quả sinh kế 1.1 Tổng quan về các cú sốc Cú sốc được định nghĩa là những rối loạn lớn, không thể đoán trước, không mang tính đều đặn, được phân biệt với các căng thẳng - thường là những sự kiện nhỏ hơn, có thể dự đoán được, diễn ra thường xuyên và đôi khi liên tục (Pearce và cộng sự, 1989). Sốc có thể dẫn đến sự suy giảm phúc lợi, ảnh hưởng đến các cá nhân (bệnh tật, tử vong), cộng đồng, khu vực hoặc thậm chí cả một quốc gia (thảm họa tự nhiên, khủng hoảng kinh tế vĩ mô) (World Bank, 2000). Nhìn chung, cú sốc có tác động tiêu cực đối với sự bền vững về xã hội, kinh tế và môi trường (Ellis, 2000; Wisner và cộng sự, 2004).
Cuộc sống của con người đầy rẫy những điều không chắc chắn, và cú sốc bắt nguồn từ những rủi ro khó đoán như vậy. Rủi ro dẫn đến cú sốc có thể mang tính đặc trưng, hiệp biến, hoặc cả hai (Onisanwa và Olaniyan, 2018). Cụ thể, rủi ro có tính đặc trưng, riêng biệt đề cập đến những trải nghiệm cụ thể của một hộ gia đình, thường không liên quan đến các hộ gia đình lân cận (ví dụ các cú sốc cấp hộ gia đình, chẳng hạn như tử vong, thương tật hoặc thất nghiệp), trong khi đó, rủi ro hiệp biến về mặt không gian đề cập đến những cú sốc ảnh hưởng đến nhiều hộ gia đình ở cùng một vị trí địa lý (tức là các cú sốc cộng đồng, chẳng hạn như thiên tai hoặc dịch bệnh) (Pradhan và Mukherjee, 2018). Do vậy, hầu hết nghiên cứu đã chia ra hai loại sốc phổ biến là: Sốc mang tính đặc trưng (Idiosyncratic shocks) và sốc mang tính hiệp biến (Covariate shocks).
Sốc mang tính đặc trưng ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình (LMIC), đặc biệt là những cú sốc về sức khỏe, đều phổ biến và để lại hậu quả nặng nề (Heltberg và Lund, 2009; Krishna, 2010; Santos và cộng sự, 2011; Wagstaff và Lindelow, 2014). Dưới góc độ quốc gia, các nghiên cứu trước đây cho rằng những cú sốc về sức khỏe (ví dụ như bệnh tật, thương tật và tử vong) là một trong những rủi ro lớn nhất đối với sự thịnh vượng của nền kinh tế (Cochrane, 1991; Gertler và Gruber, 2002; Heltberg và Lund, 2009; Somi và cộng sự, 2009; Wagstaff và Lindelow, 2014; Alvesson và cộng sự, 2015). Dưới góc độ hộ gia đình, Krishna (2007) cho rằng trong các cú sốc mang tính đặc trưng, sốc sức khỏe là loại sốc phổ biến nhất, đồng thời là 2 nguyên nhân lớn nhất đẩy các hộ gia đình vào tình trạng nghèo đói ở các nước đang phát triển. Cụ thể hơn, Mitra và cộng sự (2012) chỉ ra rằng ảnh hưởng của cú sốc sức khỏe đối với kết quả sinh kế hộ gia đình có thể sẽ nghiêm trọng hơn ở các nước đang phát triển vì thị trường bảo hiểm và các dịch vụ liên quan ở những quốc gia này còn hạn chế, khiến hầu hết các hộ gia đình dễ bị tổn thương hơn và ít có khả năng tự bảo vệ trước các cú sốc về sức khỏe.
Các hộ gia đình có thể bị giảm thu nhập, vì mất hàng giờ làm việc và tăng khoản chi phí cho y tế, và trong trường hợp không có cơ chế bảo hiểm chính thức, hậu quả kinh tế của các cú sốc sức khỏe cho hộ gia đình có thể rất nghiêm trọng (Mitra và cộng sự, 2015). Sốc mang tính hiệp biến: Khác với cú sốc mang tính đặc trưng như cú sốc sức khoẻ, các cú sốc hiệp biến có phạm vi bao phủ rộng hơn (Dercon, 2002). Sốc tự nhiên thuộc nhóm sốc mang tính hiệp biến. Các cú sốc tự nhiên bắt nguồn từ các sự kiện tự nhiên cực đoan có thể phát triển chậm (ví dụ như sa mạc hóa và dịch bệnh) hoặc có thể đột ngột (ví dụ như động đất, lũ lụt, núi lửa) (Balgah và cộng sự, 2010).
Sốc tự nhiên, cùng với các cú sốc khác, có thể tạo ra tổn thất lớn về tài sản vật chất (Gignoux và cộng sự, 2016). Dưới góc độ quốc gia, phần lớn các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng tiêu cực của cú sốc tự nhiên đến chỉ số GDP (Botzen và cộng sự, 2019; Acevedo và cộng sự, 2020). Dưới góc độ hộ gia đình, một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng cú sốc tự nhiên mang lại tác động tiêu cực tới thu nhập và chi tiêu hộ (Baez và Santos, 2008; Thomas và cộng sự, 2012; Baez và cộng sự, 2016; Deryugina và cộng sự, 2018). Như vậy, các nghiên cứu trước đây đã phân tích một loạt cú sốc để hiểu tỷ lệ mắc, phân phối và ảnh hưởng về phúc lợi của các rủi ro khác nhau mà hộ gia đình nông thôn ở những quốc gia đang phát triển phải đối mặt ( Dercon và cộng sự, 2005; Heltberg và Lund, 2009; Wagstaff và Lindelow, 2010).
Roland và cộng sự (2010) chỉ ra rằng cú sốc hiệp biến có sức công phá lớn hơn cú sốc mang tính đặc trưng. Do đó, các hộ gia đình sẽ gặp khó khăn hơn khi đối phó với loại sốc này. Dù vậy, điều này không phải luôn đúng. Những cú sốc mang tính đặc trưng vẫn có thể tạo ra tổn thất phúc lợi cao hơn những cú sốc hiệp biến.
Chẳng hạn, Günther và Harttgen (2009) chỉ ra rằng ở Madagascar, các cú sốc hiệp biến có tác động khác biệt với cú sốc mang tính đặc trưng, cụ thể, các cú sốc hiệp biến có tác động mạnh hơn đối với các hộ gia đình nông thôn, trong khi sốc mang tính đặc trưng ảnh hưởng nhiều hơn đối với hộ gia đình thành thị. 3 Tuy nhiên, các nghiên cứu phần lớn chưa xác định vai trò của năng lực thích ứng trong tác động này. Thêm vào đó, thông tin về cú sốc mang tính đặc trưng và cú sốc mang tính hiệp biến rất hạn chế trong hầu hết các khảo sát hộ gia đình và đôi khi còn thiếu hoàn toàn (Gunther và cộng sự, 2008). Do đó, hầu hết các tác giả đã tập trung vào tác động của các cú sốc được lựa chọn đối với tiêu dùng (Ví dụ: Alderman và Paxson, 1994; Christiaensen và Subbarao, 2004; Grimm, 2006; Gertler và Gruber, 2002; Gertler và cộng sự, 2006; Glewwe và cộng sự, 1998; Kochar, 1995; Ligon và Schechter, 2003; Paxson, 1992; Rosenzweig và Binswanger, 1993; Woolard và Klasen, 2005).
Bởi hầu hết các cú sốc là không thể ngăn chặn được (Frazier và Drzymkowski, 2014), vì vậy, việc đảm bảo khả năng thích ứng sau các cú sốc của các hộ gia đình là biện pháp quan trọng để đối phó với các cú sốc. Trong nghiên cứu này, nhóm xem xét tác động của cú sốc sức khoẻ và cú sốc tự nhiên - đại diện cho hai loại sốc mang tính đặc trưng và sốc mang tính hiệp biến đến kết quả sinh kế của hộ gia đình Việt Nam và vai trò điều tiết của năng lực thích ứng thông qua bộ dữ liệu VHLSS 3 năm 2014, 2016, 2018. Từ đó, nhóm nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị giúp các hộ gia đình gia tăng cường năng lực thích ứng và qua đó, góp phần giảm thiểu thiệt hại từ các cú sốc này.2 Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của cú sốc sức khỏe đến kết quả sinh kế Sốc sức khỏe và sự nghèo đói có mối quan hệ mật thiết với nhau (Grant và Hulme, 2008; Meessen và cộng sự, 2003). Tình trạng sức khỏe tốt giúp giảm nghèo đáng kể ở cấp độ cá nhân và hộ gia đình.
Ngược lại, tình trạng sức khỏe kém dẫn đến sự đói nghèo (Kabir và Maitrot, 2018). Ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới, cú sốc sức khỏe thường xảy ra phổ biến và để lại những hậu quả vô cùng nặng nề (Heltberg và Lund, 2009; Krishna, 2010; Santos và cộng sự, 2011; Wagstaff và Lindelow, 2014). Đặc biệt, cú sốc sức khỏe là một trong những rủi ro lớn nhất mà người dân ở khu vực nông thôn phải đối mặt (Woldemichael và cộng sự, 2018). Vì vậy, việc xác định ảnh hưởng của cú sốc sức khỏe là một nhu cầu cấp thiết để đưa ra những chiến lược đối phó kịp thời.
Câu hỏi đặt ra là: Mức độ tác động kinh tế của cú sốc sức khỏe tới các hộ gia đình là gì? Yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ tác động này? Các nghiên cứu xoay quanh chủ đề này đã đóng góp vào một kho tàng kiến thức bổ ích về những cú sốc sức khỏe thực tế và ảnh hưởng thật sự của nó. 4 Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của cú sốc sức khỏe đến kết quả sinh kế hộ gia đình và đưa ra nhiều nhận định xoay quanh vấn đề này. Đặc biệt, các nghiên cứu về tác động của cú sốc sức khỏe tới hộ gia đình ở nước đang phát triển đã mang đến những góc nhìn đa dạng. Trong đó, một vài nhà nghiên cứu trước năm 2000 đã thể hiện quan điểm rằng tác động của cú sốc sức khỏe tới thu nhập và chi tiêu là không đáng kể.
Cụ thể, Cochrane (1991) thấy rằng tiêu dùng của hộ gia đình không bị ảnh hưởng trong ngắn hạn nhưng có thể sẽ giảm trong dài hạn. Townsend (1994) và Kochar (1995) cũng đã phân tích các hộ gia đình ở Ấn Độ và thấy rằng tiêu dùng hộ không bị ảnh hưởng sốc sức khỏe. Townsend (1994b) trong nghiên cứu của mình chỉ ra một thực tế đáng ngạc nhiên rằng cả thất nghiệp và bệnh tật đều không có tác động đáng kể đến tiêu dùng của một hộ gia đình. Kochar (1995) trong một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng bệnh tật đối với nam giới làm giảm thu nhập tiền lương và tăng khoản vay không chính thức trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ nông nghiệp nhưng lại không có ảnh hưởng trong thời gian đình trệ của chu kỳ.
Như vậy, những nghiên cứu trước năm 2000 chỉ ra rằng các gia đình sống ở các quốc gia thu nhập thấp có khả năng thích ứng với sốc sức khoẻ khá tốt. Tuy nhiên, Gertler và cộng sự (2002) đã chỉ ra mặt hạn chế của các nghiên cứu này khi các biện pháp về sức khỏe được sử dụng của các nghiên cứu chỉ phản ánh những thay đổi nhỏ, dễ dự đoán trước về tình trạng sức khỏe, chứ không phải là loại bệnh nặng mang tính bất ngờ và nguy hiểm hơn. Nhóm nghiên cứu này cũng chỉ rõ rằng ngay cả khi các gia đình có thể bảo đảm các cú sốc sức khoẻ ở mức trung bình, hộ gia đình có khả năng đối phó hiệu quả hơn với các cú sốc dưới dạng bệnh nhẹ thường xuyên hơn là với các cú sốc lớn hiếm gặp (ví dụ như bệnh nặng hoặc tử vong) (Paul Gertler và cộng sự, 2002).