Chương 1 cũng nêu lên ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thương mại điện tử Khái niệm về thương mại điện tử được định nghĩa bởi các tổ chức trên thế giới như sau: - Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet" (Trần Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Nhật Minh 2021). - Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC): "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet" (Trần Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Nhật Minh 2021).
- Theo Ủy ban Châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công" (Trần Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Nhật Minh 2021). - Theo Bộ công thương: "Sàn giao dịch thương mại điện tử là website/apps thương mại điện tử cho phép các thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu hoặc người quản lý website/apps có thể tiến hành bán hàng hoặc cung ứng các dịch vụ trên đó" (Ánh Hồng 2023). Căn cứ theo Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về thương mại điện tử thì sàn giao dịch điện tử bao gồm các hình thức hoạt động sau: 8 - Các website/appscho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày và giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ trên đó (Chính phủ 2013).
- Các website/apps cho phép người tham gia được lập các website/apps nhanh để có thể trưng bày, giới thiệu các loại hàng hóa, dịch vụ (Chính phủ 2013). - Các website/apps trong chuyên mục mua bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán các loại hàng hóa và dịch vụ (Chính phủ 2013). - Ngoài ra còn có các loại website/apps khác do Bộ Công Thương quy định. Tóm lại, TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử.
Khái niệm về mua sắm trực tuyến Monsuwé và ctg (2004) đã nhận định rằng “mua sắm trực tuyến (MSTT) là hành vi của người tiêu dùng khi mua sắm tại website/apps hoặc apps sử dụng hình thức MSTT” (y Monsuwé, Dellaert and De Ruyter 2004). Ngoài ra, Chiu và ctg 2009 đưa ra kết luận rằng “hình thức MSTT còn được gọi là sự trao đổi về vấn đề thời gian, công sức và tiền bạc của con người để có đạt được một sản phẩm hay dịch vụ nhất định mà người tiêu dùng mong muốn có được” (Chiu và ctg 2009). Một số nghiên cứu của Hasslinger và ctg (2007); Li& Zhang (2002) lại cho rằng “MSTT là quá trình người dùng mua sắm dòng sản phẩm hay dịch vụ nhất định thông qua nền tảng mạng Internet” (Hasslinger và ctg 2007; Li & Zhang 2002). Có thể nhận thấy rằng, “điểm giao nhau giữa các khái niệm trên đề cập rằng MSTT là hành vi mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet” (y Monsuwe và ctg 2004).
Do đó, “MSTT còn được gọi là mua sắm qua mạng” (Cui và ctg 2012). Tương tự, “MSTT cũng là một hình 9 thức kinh doanh khác của ngành thương mại điện tử đang phổ biến rộng rãi hiện nay” (Nguyễn Thùy Dung và Nguyễn Thị Thu Nga 2020). Nhìn chung, mua sắm trực tuyến là quá trình giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được người tiêu dùng thực hiện thông qua Internet. Khái niệm hành vi mua sắm trực tuyến (online shopping) Theo Businessdictionary.com: Mua sắm trực tuyến là hoạt động mua sắm sản phẩm, dịch vụ qua mạng Internet.
Theo nghiên cứu của Li và Zhang (2002), “hành vi mua sắm trực tuyến (còn được gọi là hành vi mua hàng qua mạng, hành vi mua sắm qua Internet – shopping online) là quá trình mua sản phẩm dịch vụ qua Internet”. Theo định nghĩa trong nghiên cứu của Monsuwe và ctg (2004) thì “mua sắm trực tuyến là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng Internet hoặc website/apps sử dụng các giao dịch mua sắm trực tuyến”. Theo nghiên cứu của Turban và ctg (2006), “Mua sắm trực tuyến là dịch vụ mà người tiêu dùng sử dụng các thiết bị điện tử có kết nối mạng (internet) để giao dịch mua sắm. Những giao dịch trực tuyến bao gồm hành vi tìm kiếm thông tin, đặt hàng và thanh toán trên internet - mua sắm trực tuyến.
Hiện nay, mua sắm trực tuyến còn bao hàm sự thay đổi ở phạm vi rộng, thị trường có tính toàn cầu hóa, nền kinh tế dịch chuyển theo hướng dựa trên nền tảng tri thức, thông tin công nghệ ngày càng thường xuyên hơn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả thống nhất với các định nghĩa cơ bản trên về hành vi mua sắm trực tuyến và chỉ những người tiêu dùng có sử dụng Internet. Mua sắm trực tuyến (không có một dịch vụ trung gian), là một hình thức thương mại điện tử, mà người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hóa và dịch vụ qua Internet. Mua sắm trực tuyến là khi người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá, dịch vụ từ một người bán trong thời gian thực qua Internet, hay thương mại điện tử.
Một cửa hàng trực tuyến, eShop, cửa hàng điện tử, internet cửa hàng, shop, store, cửa hàng trực tuyến, hoặc cửa hàng ảo gợi lên sự tương tự vật lý 10 của sản phẩm, dịch vụ mua tại một cửa hàng bán lẻ hoặc trong một trung tâm mua sắm thực. Quá trình này được gọi là mua sắm trực tuyến, hay Business – to – Consumer (B2C). Mua sắm trực tuyến là một dạng thương mại điện tử cho phép khách hàng trực tiếp mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ người bán qua Internet sử dụng trình duyệt website/apps. Người tiêu dùng tìm thấy một sản phẩm quan tâm bằng cách trực tiếp truy cập website/apps của nhà bán lẻ hoặc tìm kiếm trong số các nhà cung cấp khác hiển thị sự sẵn có và giá của sản phẩm tương tự tại các nhà bán lẻ khác nhau.
Kể từ năm 2016 đến nay, khách hàng có thể mua sắm trực tuyến bằng nhiều loại thiết bị khác nhau, bao gồm máy tính bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng và điện thoại thông minh. Các cửa hàng trực tuyến thường cho phép người mua sắm sử dụng các tính năng "tìm kiếm" để tìm các mô hình, thương hiệu hoặc mặt hàng cụ thể. Khái niệm và đặc điểm của ngành mỹ phẩm Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt (Theo Thông tư số 7/VBHN-BYT quy định về quản lý mỹ phẩm). Một “Sản phẩm mỹ phẩm” là bất kỳ một chất hoặc một chế phẩm được dùng tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (biểu bì, hệ thống lông tóc, móng tay/chân, môi và các bộ phận sinh dục ngoài) hoặc tiếp xúc với răng và niêm mạc miệng, với mục đích duy nhất hay chủ yếu là làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo và/hoặc cải thiện mùi của cơ thể và/hoặc bảo vệ hay duy trì chúng trong điều kiện tốt (Theo Hiệp định về hệ thống hóa hợp ASEAN trong quản lý mỹ phẩm).
Phụ nữ là một trong những đối tượng chính mà ngành mỹ phẩm hướng đến, mặc dù số lượng nam giới sử dụng mỹ phẩm cũng gia tăng tại Việt Nam, tuy nhiên dường như mỹ phẩm thường được dùng cho phái đẹp nhiều hơn. Chính vì thế mà các loại mỹ phẩm dành cho phụ nữ hiện đại ngày nay đa dạng hơn rất nhiều so với đàn 11 ông. Các sản phẩm mỹ phẩm dành cho phụ nữ bao gồm kem dưỡng da, son môi, mascara, phấn má và nhiều sản phẩm khác để cải thiện ngoại hình và tự tin giúp phụ nữ ngày càng trẻ đẹp trở thành xu hướng tiêu dùng trong xã hội hiện đại. Nhờ vào sự lan truyền của Internet, mỹ phẩm không chỉ dễ dàng tiếp cận mà con tạo ra một môi trường mua sắm đa dạng và thuận tiện cho người tiêu dùng.
Khách hàng tiếp xúc với mỹ phẩm trên những website/apps trực tuyến nhiều hơn và với sự xuất hiện của thương mại điện tử, họ có thể mua sắm online trên khắp thế giới mà không cần phải đến trực tiếp tại cửa hàng truyền thống. Vì vậy thương mại điện tử nói chung và kinh doanh mỹ phẩm trực tuyến đang là xu hướng, đáp ứng nhu cầu tiện lợi và đa dạng của người tiêu dùng. Khái niệm hành vi người tiêu dùng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hành vi người tiêu dùng, với những định nghĩa mà tác giả đã tiếp cận được về hành vi người tiêu dùng sẽ được giới thiệu như sau: Theo Abraham H. Maslow (1943) đưa ra "Lý thuyết nhu cầu" với ý tưởng về các nhu cầu cơ bản và cao cấp của con người.
Ông cho rằng: “Để hiểu hành vi mua sắm, cần phải hiểu được cách mà nhu cầu của con người được thỏa mãn và ảnh hưởng đến hành vi của họ”. Bennet (1988) “Hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ”. Theo Leon Schiffman và ctg (2007) thì “hành vi người tiêu dùng hiển thị qua các quá trình tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá các sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng hi vọng sẽ đáp ứng nhu cầu của họ”.