Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng đã khẳng định vị thế là trung tâm kinh tế và du lịch hàng đầu khu vực miền Trung Việt Nam. Theo thống kê của ngành du lịch, năm 2018 tổng lượt khách tham quan, du lịch đến Đà Nẵng đạt khoảng 7.000.000 lượt, tăng 15,5% so với năm 2017 và hoàn thành 102,5% kế hoạch đề ra. Trong cơ cấu này, lượng khách du lịch quốc tế đạt 2.000.000 lượt, tăng trưởng 23,3% so với cùng kỳ, mang lại tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 24.060 tỷ đồng (tăng 23,3% so với năm 2017). Mặc dù tốc độ tăng trưởng nguồn khách quốc tế rất ấn tượng, các nhà quản lý điểm đến và doanh nghiệp dịch vụ lữ hành vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn trong việc tìm hiểu thấu đáo động cơ, nhận thức và tiến trình ra quyết định của du khách nước ngoài.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế tác động của các nhân tố thuộc về môi trường điểm đến và tâm lý cá nhân đối với quyết định lựa chọn Đà Nẵng của du khách quốc tế. Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi người tiêu dùng du lịch; nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các thành phần trong mô hình nghiên cứu; đánh giá thực trạng thu hút khách quốc tế giai đoạn 2013-2018; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thực tiễn có giá trị đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.

Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập tại địa bàn thành phố Đà Nẵng. Phạm vi thời gian sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2013-2018 và dữ liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ định lượng khoa học giúp nâng cao tỷ lệ khách lưu trú bình quân (vốn đang dừng ở mức 3,6 đêm) và gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế (đạt khoảng 5,32 triệu đồng/lượt), hỗ trợ đắc lực cho chiến lược phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hành vi người tiêu dùng du lịch và các mô hình ra quyết định kinh điển. Khung lý thuyết vận dụng mô hình tiến trình ra quyết định 5 giai đoạn của Mathieson và Wall (1982), kết hợp mô hình động cơ đẩy và kéo của Crompton (1979) cùng các mô hình hành vi người tiêu dùng du lịch của Gilbert (1991), Um và Crompton (1992), và Hill (2000). Các lý thuyết này khẳng định sự lựa chọn điểm đến chịu sự chi phối đồng thời của các động lực nội tại (nhu cầu nghỉ ngơi, khám phá, thể hiện bản thân) và các lực kéo từ điểm đến (tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng, văn hóa, giá cả và độ an toàn).

Nội dung nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm học thuật cốt lõi:

  • Du lịch: Hoạt động di chuyển tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (1963) và Luật Du lịch Việt Nam (2005).
  • Khách du lịch quốc tế: Người viếng thăm và lưu lại một quốc gia khác ngoài nơi cư trú thường xuyên với thời gian ít nhất 24 giờ và không quá 12 tháng liên tục, không nhằm mục đích kiếm thu nhập tại nơi đến.
  • Điểm đến du lịch: Không gian địa lý tổng hợp gồm tài nguyên du lịch, kết cấu hạ tầng, sản phẩm dịch vụ hỗ trợ, có khả năng phục vụ và đáp ứng nhu cầu của du khách lưu trú từ một đêm trở lên (Mike và Caster, 2007).
  • Hành vi tiêu dùng du lịch: Chuỗi phản ứng và hành động của du khách trong việc tìm kiếm, lựa chọn, tiêu dùng và đánh giá sản phẩm dịch vụ điểm đến.

Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 7 nhóm biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc Quyết định lựa chọn điểm đến Đà Nẵng, bao gồm 26 biến quan sát được chuẩn hóa qua nghiên cứu định tính.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa nghiên cứu định tính (phương pháp quy nạp) và nghiên cứu định lượng (phương pháp diễn dịch) nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học cao:

Nghiên cứu định tính được tiến hành từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018 thông qua phỏng vấn sâu 11 chuyên gia đầu ngành đang công tác tại Trường Đại học Thương mại, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Sở Du lịch Đà Nẵng, VCCI cùng các tập đoàn lữ hành lớn như Vietravel và Saigontourist. Kết quả ghi nhận 100% chuyên gia đồng thuận với các nhóm yếu tố Động cơ du lịch, Thái độ du lịch, Hình ảnh điểm đến và 91% đồng thuận với yếu tố Nhóm tham khảo cùng Đặc điểm chuyến đi.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu có chủ đích) được áp dụng với đối tượng khảo sát là khách du lịch quốc tế chưa từng đến Đà Nẵng trước đó. Nhóm nghiên cứu tiến hành phát ra 250 phiếu khảo sát thông qua 3 doanh nghiệp lữ hành lớn gồm HaNoi Redtours (70 phiếu), Vietravel (100 phiếu) và Saigontourist (80 phiếu). Tổng số phiếu thu về đạt 225 phiếu (tỷ lệ 90%). Sau bước làm sạch dữ liệu, có 217 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 95%) được đưa vào phân tích thống kê chính thức trên phần mềm SPSS 22.0.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha (yêu cầu hệ số tổng thể lớn hơn 0,6 và hệ số tương quan biến tổng lớn hơn 0,3) để kiểm tra độ tin cậy thang đo; phân tích nhân tố khám phá EFA (với KMO từ 0,5 đến 1,0; tổng phương sai trích đạt trên 50% và hệ số tải Factor Loading trên 0,5) nhằm rút gọn và nhóm các biến quan sát; cuối cùng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định trọng số tác động của từng nhân tố. Mô hình được kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến qua chỉ số VIF (nhỏ hơn 5) và hiện tượng tự tương quan qua hệ số Durbin-Watson trong ngưỡng an toàn khoảng 1,5.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2013-2018 và kết quả khảo sát định lượng 217 mẫu mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng và sự dịch chuyển cơ cấu thị trường nguồn diễn ra mạnh mẽ. Trong giai đoạn 2013-2017, lượng khách từ thị trường Hàn Quốc tăng trưởng vượt bậc tới 16 lần, từ 55.000 lượt khách (năm 2013) lên hơn 900.000 lượt khách (năm 2017), đưa Hàn Quốc và Trung Quốc trở thành hai thị trường quốc tế gửi khách hàng đầu đến Đà Nẵng. Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng năm 2018 đã phục vụ 13,3 triệu lượt khách thông qua (tăng 24,1% so với mức 10,8 triệu lượt năm 2017), trong đó lượng khách quốc tế đạt hơn 3,6 triệu lượt với 27 đường bay quốc tế trực tiếp.

Thứ hai, đặc điểm nhân khẩu học thể hiện xu hướng trẻ hóa. Du khách quốc tế trong độ tuổi từ 25 đến 45 chiếm ưu thế tuyệt đối, đạt 72,6% đối với thị trường Đông Nam Á và 53,5% đối với thị trường Đông Bắc Á. Ngược lại, du khách đến từ Tây Âu và Bắc Mỹ có độ tuổi trên 45 chiếm tỷ trọng cao hơn (lần lượt là 59,6% và 58,4%). Về hình thức tổ chức, 80,1% khách đi tour và 72,5% khách tự túc lựa chọn đồng hành cùng bạn bè hoặc gia đình; tỷ lệ du khách đi du lịch một mình chỉ chiếm 19,9% đối với hình thức tour và 27,5% đối với hình thức tự túc.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng dịch vụ và mức chi tiêu còn nhiều dư địa phát triển. Du khách quốc tế ưu tiên sử dụng dịch vụ ẩm thực (54,6%), mua sắm (42,91%) và vận chuyển (31,03%), trong khi dịch vụ y tế chỉ đạt 3,07%. Mức chi tiêu bình quân của một lượt khách quốc tế là 5,32 triệu đồng (cao gấp 1,93 lần so với khách nội địa đạt 2,75 triệu đồng). Tuy nhiên, có tới 70,8% du khách chi tiêu dưới 500 USD và 92,3% du khách chi tiêu dưới mức 2.000 USD.

Thứ tư, thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế đạt 3,6 đêm. Trong đó, tỷ lệ khách lưu trú ngắn ngày dưới 1 ngày chiếm tới 45,3%, từ 1 đến 2 ngày chiếm 24,4%, từ 3 đến 5 ngày chiếm 24,2% và chỉ có 6,1% du khách lưu trú trên 5 ngày. Khách Mỹ có thời gian lưu trú cao nhất (5,6 đêm) và mức chi tiêu dẫn đầu (14,4 triệu đồng), trong khi khách Malaysia có thời gian lưu trú ngắn nhất (2,6 đêm).

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các nhóm nhân tố: Hình ảnh điểm đến, Động cơ du lịch, Cơ sở hạ tầng - dịch vụ, và Chi phí cảm nhận có ảnh hưởng thuận chiều và mang ý nghĩa thống kê đến quyết định lựa chọn điểm đến Đà Nẵng của du khách quốc tế. Điều này hoàn toàn tương đồng với kết luận của Mathieson và Wall (1982) cũng như nghiên cứu của Hồ Kỳ Minh (2010), khẳng định du khách quốc tế đánh giá rất cao vẻ đẹp thiên nhiên đa dạng, sự thân thiện của người dân địa phương và dải bờ biển dài khoảng 70 km từng được Tạp chí Forbes bình chọn là một trong những bãi biển quyến rũ nhất hành tinh.

Dữ liệu nghiên cứu khi được biểu diễn qua bảng so sánh sức thu hút tài nguyên biển chỉ ra rằng các bãi biển như Non Nước (đạt 21/30 điểm) và Làng Vân (đạt 21,5/30 điểm) sở hữu độ sạch, phong cảnh và tiềm năng phát triển vượt trội. Ngược lại, các bãi biển đô thị như Thanh Khê, Xuân Hà, Tam Thuận chỉ đạt 12,5/30 điểm do hạn chế về khả năng biệt lập và sức chứa sản phẩm.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng 45,3% du khách lưu trú dưới 1 ngày và 70,8% chi tiêu dưới 500 USD xuất phát từ việc các sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử (như Bảo tàng Điêu khắc Chăm, danh thắng Ngũ Hành Sơn, di tích Thành Điện Hải) chưa được đầu tư theo chiều sâu; các hoạt động lễ hội truyền thống chưa trở thành sản phẩm trải nghiệm đặc thưng; các dịch vụ giải trí kinh tế đêm còn thiếu sự phong phú. So sánh với các nghiên cứu tại Thái Lan (Chetanont, 2012) và Malaysia (Mohamad & Jamil, 2012), Đà Nẵng cần đẩy mạnh việc gia tăng giá trị trải nghiệm tại chỗ để kích thích nhu cầu chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của du khách quốc tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2025 và tầm nhìn 2030:

Thứ nhất, tái định vị thương hiệu và số hóa hoạt động tiếp thị quốc tế. Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng cần chủ trì chiến dịch truyền thông đa kênh với thông điệp Fantasticity!, đẩy mạnh tiếp thị số bằng các ngôn ngữ mục tiêu (Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh) trên nền tảng mạng xã hội và các trang phân phối du lịch trực tuyến. Target metric: Nâng tỷ lệ nhận diện thương hiệu du lịch Đà Nẵng tại các thị trường trọng điểm thêm 25% trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, nâng cấp và đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch biển, văn hóa, làng nghề. Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng cùng Ủy ban nhân dân thành phố cần đầu tư đồng bộ công viên văn hóa lịch sử Ngũ Hành Sơn, mở rộng không gian trưng bày Bảo tàng Điêu khắc Chăm kết hợp trình diễn nghệ thuật phi vật thể. Đồng thời, phục hồi các làng nghề truyền thống như Làng đá Non Nước, Làng nước mắm Nam Ô thành điểm trải nghiệm văn hóa cao cấp nhằm tăng thời gian lưu trú bình quân từ 3,6 đêm lên mức 4,5 đêm vào năm 2025.

Thứ ba, mở rộng hạ tầng kết nối và xúc tiến mở thêm các đường bay thẳng quốc tế. Sở Du lịch phối hợp cùng Cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng và các hãng hàng không mở rộng mạng lưới vượt con số 27 đường bay hiện tại, tập trung khai thác các thị trường có mức chi tiêu cao như Bắc Mỹ, Tây Âu và Úc. Đồng thời, nâng cấp Cảng Tiên Sa chuyên dụng cho tàu biển du lịch cao cấp, đặt mục tiêu tăng trưởng lượng khách tàu biển trên 20%/năm đến năm 2030.

Thứ tư, chuẩn hóa chất lượng cơ sở lưu trú và môi trường du lịch an toàn. Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cùng các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành cần nâng cấp chất lượng phục vụ tại 693 cơ sở lưu trú (28.780 phòng) trên địa bàn, tăng cường đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng chuyên nghiệp cho đội ngũ nhân lực. Cơ quan chức năng cần tăng cường thanh tra kiểm soát an ninh trật tự, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng bán hàng rong, chèo kéo khách tại bãi biển, hướng tới mục tiêu nâng mức chi tiêu bình quân của du khách quốc tế vượt mức 8,0 triệu đồng/lượt trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nguồn tài liệu khoa học và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng): Sử dụng dữ liệu thực chứng và hệ thống mô hình hồi quy để hoạch định chính sách phát triển thị trường khách quốc tế, phân bổ nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông - hàng không và xây dựng quy hoạch không gian biển bền vững cho bờ biển dài 70 km của địa phương.

  2. Doanh nghiệp lữ hành và các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch: Nắm bắt hồ sơ nhân khẩu học và hành vi tiêu dùng của du khách quốc tế (hơn 80% đi cùng người thân, 54,6% yêu thích ẩm thực) để thiết kế các gói tour trọn gói cá nhân hóa, tối ưu hóa công suất sử dụng phòng (đang ở mức bình quân 50-55%) và gia tăng doanh số từ các dịch vụ bổ trợ.

  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Du lịch, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế phát triển: Tham khảo quy trình thực hiện nghiên cứu khoa học thực nghiệm bài bản, kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định tính phỏng vấn chuyên gia và phương pháp định lượng xử lý qua SPSS 22.0 với các kiểm định Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa biến.

  4. Các nhà đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng và dịch vụ giải trí: Đánh giá chính xác tiềm năng khai thác của thị trường khách quốc tế tại Đà Nẵng, phân tích xu hướng chi tiêu (5,32 triệu đồng/lượt) để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn vào các tổ hợp khách sạn 4-5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp ven biển và trung tâm giải trí quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Những thị trường khách quốc tế nào đóng vai trò chủ lực đối với du lịch Đà Nẵng? Thị trường Hàn Quốc và Trung Quốc đang dẫn đầu thị trường khách quốc tế đến Đà Nẵng. Trong đó, lượng khách Hàn Quốc ghi nhận sự tăng trưởng đột phá gấp 16 lần từ 55.000 lượt (năm 2013) lên hơn 900.000 lượt (năm 2017). Ngoài ra, các thị trường Nhật Bản, Hoa Kỳ, Úc và khối Tây Âu duy trì lượng khách ổn định, góp phần quan trọng giúp Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đạt sản lượng 13,3 triệu lượt khách năm 2018.

Mô hình nghiên cứu của đề tài gồm những yếu tố nào và được xác lập ra sao? Mô hình nghiên cứu tích hợp 7 nhóm nhân tố với 26 biến quan sát, được xác lập dựa trên lý thuyết hành vi người tiêu dùng của Mathieson & Wall (1982), Crompton (1979) và kết quả phỏng vấn sâu 11 chuyên gia. Các nhóm yếu tố bao gồm: Động cơ du lịch, Thái độ du lịch, Hình ảnh điểm đến, Nhóm tham khảo, Đặc điểm chuyến đi, Dịch vụ - cơ sở hạ tầng và Chi phí cảm nhận.

Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu khảo sát định lượng được thực hiện thế nào? Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích đối với khách quốc tế chưa từng đến Đà Nẵng. Tổng cộng 250 bảng hỏi được phát ra thông qua 3 công ty lữ hành uy tín (Vietravel, Saigontourist, HaNoi Redtours), thu về 225 phiếu (tỷ lệ 90%). Sau quá trình làm sạch số liệu, 217 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 95%) được đưa vào phân tích EFA và hồi quy trên SPSS 22.0.

Thực trạng mức chi tiêu và thời gian lưu trú của khách quốc tế tại Đà Nẵng hiện nay ra sao? Thời gian lưu trú bình quân của du khách quốc tế tại Đà Nẵng là 3,6 đêm, trong đó tỷ lệ khách lưu trú dưới 1 ngày chiếm tới 45,3%. Mức chi tiêu bình quân đạt khoảng 5,32 triệu đồng/lượt, với 70,8% du khách chi tiêu dưới 500 USD, phản ánh sự thiếu hụt các sản phẩm trải nghiệm văn hóa chuyên sâu và các dịch vụ kinh tế đêm hấp dẫn.

Lợi thế cạnh tranh nổi bật nhất của du lịch Đà Nẵng so với các điểm đến khác là gì? Đà Nẵng sở hữu vị trí cửa ngõ Hành lang kinh tế Đông - Tây, bãi biển 70 km nằm trong top đẹp nhất hành tinh, hệ thống lưu trú hiện đại gồm 693 khách sạn với 28.780 phòng, cùng 27 đường bay quốc tế kết nối trực tiếp. Thành phố từng đạt giải thưởng Thành phố bền vững môi trường ASEAN và Điểm đến hàng đầu Châu Á về sự kiện và lễ hội năm 2016.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa và kiểm định thành công mô hình 7 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến Đà Nẵng của du khách quốc tế với cỡ mẫu định lượng 217 quan sát hợp lệ.
  • Phân tích toàn diện bức tranh thực trạng tăng trưởng du lịch giai đoạn 2013-2018 với quy mô đạt 7.000.000 lượt khách và doanh thu 24.060 tỷ đồng trong năm 2018.
  • Làm rõ các điểm nghẽn chiến lược về thời gian lưu trú ngắn (bình quân 3,6 đêm) và tỷ lệ chi tiêu thấp (70,8% du khách chi dưới 500 USD).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về xúc tiến thương hiệu Fantasticity!, đa dạng hóa sản phẩm biển - văn hóa và mở rộng đường bay quốc tế định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn 2030.
  • Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng ứng dụng kết quả nghiên cứu này để tái cấu trúc sản phẩm dịch vụ, tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng và đẩy mạnh thu hút nguồn khách quốc tế chất lượng cao.