Chương 1 đã khái quát tính cấp thiết của vần đề nghiên cứu, bối cảnh, mục tiêu cũng như phạm vi nghiên cứu. -5- Chương 2 : KHUNG PHÂN TÍCH VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Nội dung của chương 2 sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến nghèo đói, khung phân tích các yếu tố thoát nghèo, đồng thời tổng hợp các kết quả của nghiên cứu trước để làm cơ sở phân tích nghiên cứu 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về nghèo Khái niệm về nghèo cho đến nay vẫn không có một khái niệm duy nhất và do đó cũng không có một phương pháp hoàn hảo để đo được nghèo. Hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã định nghĩa: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp dưới 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Định nghĩa về nghèo đói trong Báo cáo phát triển năm 2004 của WB thì “nghèo là tình trạng thiếu thốn nhiều phương diện: thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn đến những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng,…”.
Tại Việt Nam, Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế Xã hội Châu Á -Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, theo đó: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.2 Đo lường nghèo Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của WB đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia. Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.1 Tiêu chuẩn nghèo đói của WB Mức thu nhập tối thiểu Khu vực (USD/người/ngày) Các nước đang phát triển khác 1 USD (hoặc 360 USD/năm) Châu Mỹ Latinh và Caribe 2 Đông Âu 4 Các nước phát triển 14,4 (Nguồn: Đinh Phi Hổ (2009) Ở Việt Nam, theo Quyết định số 170/2005/QĐ-LĐTBXH ngày 08/07/2005 của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH về việc điều chỉnh chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 260.000 đồng/tháng ở thành thị và dưới 200.000 đồng/tháng đối với nông thôn. Đến ngày 30/01/2011, Bộ LĐTB&XH đã nâng lên chuẩn mực hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 lên 500.000 đồng/tháng ở thành thị và nông thôn 400.000 đồng/tháng trở xuống. Và mới đây năm 2015, Bộ LĐTB&XH đang nghiên cứu và xây dựng chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020.
Từ năm 2015, chuẩn nghèo mới dự kiến sẽ xem xét dựa trên 5 chiều gồm: y tế, giáo dục, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, bảo hiểm và trợ giúp xã hội. Đây sẽ là một “bước ngoặt” lớn trong việc thay đổi chính sách giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội trong những giai đoạn tiếp theo. -7- Ngoài ra, các quốc gia còn sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiện trạng nghèo: - Số người hoặc số hộ nghèo đói chung: Chỉ tiêu này được xác định bởi số người hoặc số hộ có thu nhập không đảm bảo được mức sống tối thiểu. - Tỷ lệ người hoặc hộ nghèo đói chung: là tỷ lệ phần trăm của số người hoặc số hộ có thu nhập không đảm bảo mức sống tối thiểu trên tổng dân số hoặc tổng số hộ gia đình của một quốc gia.
- Số người hoặc số hộ nghèo đói lương thực: Chỉ tiêu này được xác định bởi số người hoặc số hộ có thu nhập không đảm bảo được mức năng lượng tối thiểu. - Tỷ lệ người hoặc hộ nghèo đói lương thực: là tỷ lệ phần trăm số người hoặc số hộ có thu nhập không đảm bảo được mức năng lượng tối thiểu trên tổng dân số hoặc tổng số hộ.2 Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo Trên thế giới và Việt Nam có nhiều quan điểm lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nghèo. Theo kết quả nghiên cứu về nghèo động của nhóm tác giả Oxley và cộng sự (2000) đã phát hiện ra rằng một số nhóm có khả năng nghèo lâu hơn nhóm khác, đặc biệt là các gia đình cha mẹ đơn thân, phụ nữ và người neo đơn. Quan điểm nhân khẩu học cho thấy quy mô, độ tuổi, giới tính và tỷ lệ người phụ thuộc trong hộ sẽ tác động mạnh đến khả năng nghèo, đặc biệt là số người tạo ra thu nhập.
Khi hộ có một người bị mất việc sẽ đẩy gia đình xuống ngưỡng nghèo trong một thời gian dài. Nhóm tác giả Andersson, Engvall và Kokko (2006) đã đưa ra khung phân tích về các yếu tố tác động đến nghèo thông qua tác động của chi tiêu bình quân của HGĐ. Khung đã tổng hợp và mô tả tác động qua lại giữa bốn nhóm nhân tố tác động đến mức chi tiêu của HGĐ như sau: -8- Hình 2.1 Khung phân tích các nhân tố tác động đến chi tiêu bình quân của HGĐ Yếu tố dân tộc: Tiết kiệm, chuyển giao Nguồn gốc dân tộc Đặc điểm hộ gia đình: Quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc Yếu tố môi trường: Thể chế, chính sách, cạnh tranh, cơ sở hạ tầng Yếu tố sản xuất: Lao động, vốn con người, vốn vật chất, đất đai, kỹ thuật Chi tiêu bình quân thực của hộ gia đình (Nguồn: Andersson, Engvall và Kokko (2006)) Ba nhóm yếu tố gồm sản xuất, môi trường và đặc điểm HGĐ có mối quan chặt chẽ cộng gộp lẫn nhau cùng tác động mạnh đến chi tiêu bình quân của hộ. Yếu tố về thể chế, chính sách, cạnh tranh và cơ sở hạ tầng tại khu vực HGĐ sinh sống sẽ tạo điều kiện cho HGĐ có thể phát huy được các nguồn lực sản xuất như lao động, vốn con người, vật chất, đất đai và kỹ thuật.
Mức độ phát huy của hai nhóm yếu tố trên cao hay thấp lại phụ thuộc vào đặc điểm HGĐ đó như quy mô hộ và tỷ lệ người phụ thuộc. Ngoài ra, yếu tố dân tộc cũng là một nhân tố quan trọng tác động trực tiếp và gián tiếp (thông qua kênh tiết kiệm và chuyển giao) đến chi tiêu bình quân thực của HGĐ. Nghiên cứu của WB (2007) đã tổng hợp khá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói hơn so với khung phân tích trên: Thứ nhất là cấp độ vùng, sự cách biệt về vị trí địa lý dẫn đến việc thiếu cơ sở hạ tầng, làm giảm khả năng tiếp cận của người dân với các dịch vụ tối thiểu như các dịch vụ xã hội, yếu tố thị trường. Điều kiện tự nhiên, quản lý Nhà nước và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cũng có tác động lớn đến khả năng thoát nghèo của HGĐ.
Thứ hai, ở cấp độ cộng đồng đề cập đến ba yếu tố: cơ sở hạ tầng, phân bố đất đai, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục. -9- Mức độ nghèo của HGĐ còn chịu tác động bởi các đặc tính gia đình như quy mô , tỷ lệ người phụ thuộc, giới tính của chủ hộ, tài sản của hộ (đất đai, phương tiện sản xuất, nhà cửa,…), tỷ lệ có việc làm của các thành viên trưởng thành cũng như loại hình công việc và trình độ học vấn của các thành viên trong hộ. Cuối cùng, cấp độ đặc tính cá nhân ở đây gồm: tuổi, giáo dục, việc làm và dân tộc cũng tác động không nhỏ đến khả năng nghèo của HGĐ. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước khác như Oxley và cộng sự (2000), Walle và cộng sự (2004), Krishna (2004), Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2006), Reardon và cộng sự (2007), Cunguara (2008), Đinh Phi Hổ và Chiv (2009), Polin và Raitano (2012) và Phan Thị Nữ (2012) cũng đưa ra các yếu tố hưởng đến thoát nghèo theo như danh sách tổng hợp của WB như sau: 2.1 Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý) Điều kiện tự nhiên (thời tiết, đất đai thổ nhưỡng, nước) của các khu vực địa lý khác nhau cũng sẽ tác động đến khả năng thoát nghèo của HGĐ.
Theo nghiên cứu của WB (2007) ở Việt Nam cho thấy rằng những HGĐ sống ở những vùng đồng bằng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp sẽ ít rơi vào cảnh nghèo hơn những HGĐ sống ở vùng miền núi phía bắc hay khu vực thường có thiên tai, lũ lụt xảy ra.2 Tiếp cận thị trường Những HGĐ sinh sống ở những khu vực gần chợ, trung tâm thương mại thì mức độ đa dạng hóa nguồn thu nhập của hộ sẽ cao hơn, đặc biệt trong hoạt động phi nông nghiệp như buôn bán, dịch vụ,… Theo Kishna (2004) và World Bank (2007) thì những vùng mà các hộ gia đình bị hạn chế trong tiếp cận thị trường, giao thương giữa khu vực nông thôn và thành thị sẽ khó thoát nghèo hơn. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Trường Sơn (2012) cho thấy những hộ gia đình sinh sống ở khu vực gần chợ thì xác suất thoát nghèo của họ sẽ cao hơn những hộ có khoảng cách xa chợ.2 Cấp độ cộng đồng 2.1 Cơ sở hạ tầng giao thông Cơ sở hạ tầng nông thôn bao gồm đường giao thông, điện, chợ, nước sạch, hệ thống thông tin liên lạc có tác động đáng kể đến mức sống của HGĐ. Những HGĐ mà sống ở môi trường khó có thể tiếp cận được nguồn lực cơ bản như lương thực, nước sạch,… thì sẽ kéo theo bệnh tật, suy dinh dưỡng dẫn đến rơi vào tình trạng nghèo đói. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011) đã chứng minh rằng việc tiếp cận đường giao thông, trường học và trạm xá thường xuyên ở khu vực nông thôn sẽ tăng khả năng thoát nghèo của HGĐ.
Các nghiên cứu của Walle và cộng sự (2004), Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2006), Đinh Phi Hổ và Chiv (2009) và World Bank (2007) đều cho rằng thông qua thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo ở vùng nông thôn.