Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Một số vấn đề cơ bản về hoàn thuế giá trị gia tăng. Khái niệm, đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế được áp dụng rất phổ biến trên thế giới. Thuật ngữ này theo tiếng Pháp là “Tax sur la Valuer Ajourtee”, theo tiếng Anh là: Value Added Tax (viết tắt là VAT). Điều 2 của Luật thuế GTGT của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 đã quy định: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [42]. Như vậy, thuế GTGT được coi là một loại thuế tiêu dùng và là thuế gián thu nhằm đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhưng được thu ở khâu bán hàng.
Nói cách khác, thuế GTGT là sắc thuế áp dụng đối với giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu sản xuất, lưu thống đến tiêu dùng. Đặc biệt, thuế GTGT đánh vào khâu cuối cùng (khâu tiêu dùng) sẽ bằng tổng giá trị của các lần đánh thuế của các khâu trước đó. Dưới góc độ pháp lý, thuế GTGT là nghĩa vụ tài chính theo đó người chịu thuế phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước, thông qua hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Trong thực tế, phần đông các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế GTGT không tự nguyện nộp thuế nếu như nhà nước không ràng buộc họ bằng các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm của thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trên bình diện rộng. Tính gián thu của thuế GTGT được thể hiện qua đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là hai chủ thể hoàn toàn khách nhau. Mặt khác, sắc thuế này cũng mang bản chất liên hoàn và có tính tập trung kinh tế cao, mang những đặc tính cơ bản, đặc trưng của một sắc thuế khoa học, tiên tiến như: tính lũy thoái, điều tiết hành vi tiêu dùng hàng hóa dịch vụ. Tuy nhiên, đặc điểm chính, chủ yếu của thuế GTGT là: Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng; Thuế GTGT gắn liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn chứng từ.
Khái niệm, đặc điểm về hoàn thuế giá trị gia tăng. Tại khoản 1, điểm a, Điều 10 Luật thuế GTGT quy định: “Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ” [42]. Theo quy định tại khoản 1, Điều 7 Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2008 thì “Số thuế giá trị gia tăng phải nộp tính theo phương pháp khấu trừ bằng số thuế giá trị gia tăng đầu ra (-) số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ”. Khấu trừ thuế là căn cứ quan trọng trong việc hoàn thuế GTGT hiện nay.
Tại Chương III Điều 10, Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT quy định về hoàn thuế GTGT như sau: “Việc hoàn thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng. Như vậy, hoàn thuế GTGT được hiểu là việc cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền hoàn trả lại cho đối tượng số tiền thuế GTGT đã nộp thừa hoặc chưa được khấu trừ hết. Việc hoàn thuế GTGT được thực hiện theo yêu cầu của các chủ thể khi họ đáp ứng đủ các điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy định của pháp luật. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nước ta, Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn về thuế hiện hành không đưa ra khái niệm, định nghĩa cụ thể về hoàn thuế GTGT.
Tuy nhiên, có thể xem xét khái niệm hoàn thuế GTGT dưới góc độ khác nhau, cụ thể: Xem xét dưới góc độ kinh tế - tài chính, hoàn thuế GTGT là việc nhà nước hoàn trả lại cho doanh nghiệp một khoản tiền thuế nhất định đúng bằng với số thuế doanh nghiệp đã nộp khi doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật. Xét dưới góc độ nghiệp vụ thuế thì hoàn thuế GTGT chỉ đơn thuần là một biện pháp kỹ thuật trong công tác tiến hành thu thuế. Xét dưới góc độ pháp lý thì hoàn thuế là quyền của đối tượng nộp thuế được nhà nước trả lại một khoản tiền thuế nhất định khi có đơn yêu cầu của doanh nghiệp và doanh nghiệp chứng minh thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định. Hơn nữa hoàn thuế GTGT còn là một chế định pháp luật mà nội dung của nó là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định về các trường hợp được hoàn thuế, điều kiện hoàn thuế, đối tượng được hoàn thuế, thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế và trình tự, thủ tục hoàn thuế.
Đây là những quan điểm về hoàn thuế GTGT nhìn từ những góc độ khác nhau trong quá trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý cho thấy hoàn thuế GTGT là việc nhà nước hoàn trả lại một khoản tiền nhất định cho đối tượng nộp thuế khi họ thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định. Như vậy, hoàn thuế GTGT là việc hoàn trả một số tiền thuế nộp thừa cho tổ chức cá nhân nộp thuế khi: (i) Tổ chức cá nhân nộp thuế có số tiền nộp thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp; (ii) Tổ chức cá nhân nộp thuế có số tiền thuế được hoàn theo quy định của pháp luật về thuế GTGT. Mặt khác, quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối sản phẩm là chu trình kinh tế có sự tham gia của nhiều chủ thể.
Cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ là người nộp thuế GTGT nên việc hoàn thuế GTGT là một nghiệp vụ rất quan trọng của thuế GTGT. Phạm vi đối tượng nộp thuế GTGT rất rộng, việc hoàn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế GTGT cũng diễn ra trên phạm vi rất rộng, bao hàm nhiều quan hệ phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế. Vì thế, hoàn thuế GTGT được hiểu là trường hợp đặc biệt của khấu trừ thuế nên hoàn thuế chỉ đặt ra đối với đối tượng nộp thuế theo phương thức khấu trừ thuế. Các cơ sở kinh doanh trong ba tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết sẽ được hoàn lại.
Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng được tính vào số thuế được hoàn trong tháng. Theo quy định của khoản 2, Điều 7 Nghị định 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT quy định: “Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ đó”[11].
Về nguyên tắc, nếu trong thời kỳ nộp thuế mà thuế đầu vào được khấu trừ không hết thì sẽ phát sinh quyền hoàn thuế. Như vậy, qua phân tích ở trên có thể hiểu: “Hoàn thuế là hệ quả của hành vi khấu trừ thuế đầu vào nếu số thuế đầu vào được khấu trừ không hết thì nhà nước có nghĩa vụ hoàn thuế cho doanh nghiệp, tức trả lại số thuế nộp thừa cho doanh nghiệp trong kỳ đó. Nếu nhà nước không hoàn lại kịp thời số tiền thừa này thì coi như nhà nước chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Số tiền này thuộc quyền sở hữu của doanh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp, Nhà nước chỉ là người nắm giữ tạm thời khi chưa xác định được số tiền doanh nghiệp phải nộp là bao nhiêu.” Việc hoàn thuế GTGT có những đặc điểm chủ yếu sau đây: - Thứ nhất, chủ thể được hoàn thuế GTGT là đối tượng nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 2, Nghị định số 123/2008/NĐ- CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT quy định: “Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng và tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng”. Như vậy, chỉ những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT mới là đối tượng được hoàn thuế GTGT. Thực chất của việc hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại đối tượng nộp thuế một khoản tiền thuế tương ứng với số tiền thuế mà chủ thể đó đã nộp thừa. Như vậy, cá nhân, tổ chức thuộc diện nộp thuế GTGT mà chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước thì cũng không có quyền yêu cầu hoàn thuế GTGT.
- Thứ hai, tổ chức, cá nhân đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của mình, đó là chuyển quyền sở hữu một khoản tiền nhất định (tiền thuế) vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, sau đó tổ chức, cá nhân căn cứ vào quy định hiện hành về hoàn thuế GTGT, nếu phù hợp các quy định này, thì tổ chức cá nhân, sẽ nộp đơn tới cơ quan thuế có thẩm quyền để yêu cầu được hoàn trả số tiền thuế. Xét về bản chất thì tiền hoàn thuế GTGT là việc chuyển quyền sở hữu (một giá trị nhất định) từ Nhà nước sang cho các tổ chức, cá nhân thỏa mãn các điều kiện được hoàn thuế. Việc hoàn thuế được thực hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan thuế có thẩm quyền.
- Thứ ba, căn cứ để được xét và chấp nhận cho hoàn thuế GTGT đó là toàn bộ hồ sơ hoàn thuế GTGT.