Chương 1: Những vấn đề lý luận về phá sản doanh nghiệp và thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản Danh từ phá sản bắt nguồn từ chữ “Ruin” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự khánh tận. Khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một chủ thể kinh doanh mà biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán. Trong thuật ngữ tiếng Anh, phá sản là “Bankruptcy”, trong từ điển Tiếng Việt thì “phá sản là tình trạng tài sản chẳng còn gì, và thường là vỡ nợ, do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại” [23].
Về mặt xã hội, phá sản đồng nghĩa với “tán gia bại sản”. Do đó, người ta thường có định kiến xấu với vấn đề phá sản. Nhất là các nước phương Đông, khi nói đến phá sản người ta thường liên tưởng đến những thất bại không thể cứu vãn trong kinh doanh và suy luận đến khả năng quản lý kém cỏi của doanh nhân. Hiện nay quan điểm này đã dần thay đổi: Định kiến về vấn đề phá sản không còn quá nặng nề, phá sản dần trở thành một hiện tượng bình thường mang tính khách quan, những con nợ bị phá sản do kém may mắn cũng được đối xử độ lượng hơn [15,T5].
Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đương nhiên của quá trình cạnh tranh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao cuộc sống của người dân thì thế giới cũng xảy ra nhiều biến động. Hậu quả khủng hoảng kinh tế kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.
Để giải quyết hậu quả của kinh doanh 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và con nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết. Tuy nhiên, các phương thức giải quyết tự phát đôi khi không đạt được hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định của pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, con nợ và người lao động. Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định nào đó.
Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng những thuộc tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong điều kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc chung… nhằm tác động một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể quan hệ phá sản, giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có của nó. Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo. Khái niệm phá sản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Tiếp theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/1987, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 được nhìn nhận như là sự tiếp nối lôgic trong việc thể chế hoá chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 là đạo luật về phá sản đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành trong hoàn cảnh nước ta mới bước vào nền kinh tế thị trường. Kinh nghiệm của chúng ta về kinh tế thị trường nói chung và về phá sản nói riêng còn rất hạn chế. Kinh nghiệm lập pháp về phá sản hoàn toàn không có. Có thể nói, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 được xây dựng chủ yếu dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài.
Theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì doanh nghiệp lâm vào “tình trạng phá sản” là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn [3, Điều 2]. Còn phá sản doanh nghiệp là tình trạng một doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ dẫn đến việc hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và bị tòa án, theo thủ tục luật định, ra quyết định buộc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp và thanh lý tài sản của nó để trả nợ cho các chủ nợ. Trong pháp luật của nhiều nước, thuật ngữ phá sản được sử dụng với nghĩa hẹp để chỉ một số trường hợp cụ thể, khi con nợ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự gây thiệt hại cho các chủ nợ. Pháp luật của các nước này thường sử dụng thuật ngữ insolvency (không có khả năng trả nợ hay khánh tận) để thay thế cho thuật ngữ phá sản (bankruptcy).
Ở Việt Nam, hiện tượng phá sản doanh nghiệp lần đầu tiên được quy định tại Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Pháp luật của các nước quy định về đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản cũng rất khác nhau. Ở một số nước thủ tục tuyên bố phá sản có thể được áp dụng đối với tất cả những người mắc nợ mà không phân biệt cá nhân hay pháp nhân và cũng không phân biệt thương nhân hay không là thương nhân, không phân biệt nợ dân sự hay là nợ thương mại (chẳng hạn Hoa Kỳ, Nhật…). Một số nước lại chỉ xem thương nhân với các khoản nợ thương mại mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản (chẳng hạn là pháp luật của Nga trước khi ban hành Luật mất khả năng thanh toán năm 2002).
Một số nước lại quy định chỉ doanh nghiệp mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của Việt Nam đã quy định theo hướng này. b) Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá sản năm 2004 Luật Phá sản năm 2004 ra đời là một cố gắng mới của các nhà lập pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với hiện tượng phá sản bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn 9 năm áp dụng Luật này, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Trong số các điểm mới đó có khái niệm mới về tình trạng phá sản.
Khái niệm tình trạng phá sản là khái niệm có ý nghĩa quan trọng của pháp luật phá sản. Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ. Trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 khái niệm này dường như được xây dựng trên cơ sở kết hợp tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động.
Tính định tính thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của con nợ… Khái niệm tình trạng phá sản còn phải gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng. Với khái niệm như vậy, trên thực tế các chủ nợ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình bởi lẽ họ phải chứng minh là con nợ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ trễ hạn thanh toán – không trả nợ thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của con nợ.
Điều này dường như nằm ngoài khả năng của con nợ.