Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" do nghiên cứu sinh Trần Huy Đức thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sỹ Sơn. Công trình thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 9 38 01 04), được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tham nhũng được xác định là trở ngại đối với sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, làm suy giảm các nguồn lực quốc gia và xói mòn lòng tin của nhân dân. Trên bình diện quốc tế, các quốc gia tăng cường hợp tác xử lý tội phạm tham nhũng xuyên quốc gia trên nền tảng Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC - Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009). Tại Việt Nam, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, khó khăn, phức tạp và lâu dài.
Mặc dù hệ thống thể chế và pháp luật hình sự từng bước được hoàn thiện (BLHS năm 1999 sửa đổi 2009; Luật PCTN năm 2005, 2007, 2012, 2018; Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020; BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017), tình hình tội phạm tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp. Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN ghi nhận thiệt hại phát hiện gần 60.000 tỉ đồng và hơn 400 ha đất, nhưng tỷ lệ thu hồi chỉ đạt gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất; 918 người đứng đầu và cấp phó bị xử lý do thiếu trách nhiệm. Theo thống kê của Tòa án nhân dân (TAND) từ ngày 01/10/2016 đến 31/7/2017, Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm 145 vụ án với 328 bị cáo về các tội danh tham nhũng; trong đó tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm 50% (tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016), tỷ lệ hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ chiếm 14,6%, và 07 bị cáo bị tuyên phạt tử hình hoặc tù chung thân. Về chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) do Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố, năm 2017 Việt Nam xếp hạng 107/180; năm 2018 đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180.
Tại thành phố Đà Nẵng — đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế - văn hóa của miền Trung - Tây Nguyên, công tác xét xử tội phạm tham nhũng đã đạt được những kết quả cụ thể, song vẫn đối mặt với nhiều phức tạp, nhất là trong lĩnh vực quản lý nhà, đất công sản. Một số vụ án bị Tòa án cấp trên sửa án hoặc bị Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) kháng nghị do bất cập trong nhận thức lý luận và áp dụng quy định pháp luật hình sự. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình khoa học phân tích chuyên biệt, toàn diện về tội phạm tham nhũng dưới góc độ luật hình sự kết hợp nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt trên một địa bàn đô thị trọng điểm.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về các tội phạm tham nhũng.
Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích khái niệm, dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác.
- Phân tích, đánh giá thực trạng lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Phân tích nội dung các quy định của BLHS hiện hành về các tội phạm về tham nhũng.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp khác bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong tình hình mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm khoa học; văn bản chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; các quy định pháp luật hình sự Việt Nam và điều ước quốc tế về PCTN; thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án đối với các vụ án tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Không gian (địa bàn): Giới hạn tại thành phố Đà Nẵng.
- Thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu quốc tế tiếp cận tội phạm tham nhũng từ các khía cạnh liêm chính công vụ, luật học so sánh, kinh tế học và trách nhiệm pháp nhân:
- Fijnaut (2001) trong công trình “Corruption, integrity and law enforcement” tổng hợp ý kiến 35 nhà khoa học từ 13 quốc gia tại Diễn đàn toàn cầu lần thứ 2 về chống tham nhũng (La Hay), phân tích các định chế đặc thù như Ủy ban độc lập chống tham nhũng bang New South Wales (ICAC) và chương trình chống tham nhũng của cảnh sát London.
- Brian Whittaker và Jordan Hicks (2008) trong bài viết “Public Corruption” (American Law Review) phân tích các cấu thành tội phạm tham nhũng theo pháp luật Hoa Kỳ như đưa/nhận hối lộ, nhận thù lao trái quy định và các yếu tố tăng nặng.
- Colin Nicholls QC, Timothy Daniel, Alan Bacarese và John Hatchard (2011) với tác phẩm “Corruption and misuse of public office” (Oxford University Press) phân tích tội phạm chức vụ trong Luật Tham nhũng 2010 của Vương quốc Anh, Đạo luật chống tham nhũng ở nước ngoài của Hoa Kỳ (FCPA) và Công ước UNCAC.
- Lenny Roth (2013) trong “Corruption offences” (NSW Parliamentary Research Service) khảo cứu án lệ và quy định của bang New South Wales, Victoria, Queensland và Vương quốc Anh.
- Borlini và Leonardo S. (2014) trong “Corruption: economic analysis and international law” (Edward Elgar Publishing) phân tích mô hình trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân đối với tội phạm tham nhũng.
- Nghiên cứu “Canada's Corruption Of Foreign Public Officials Act And Secret Commissions Offense” (2014) làm rõ thẩm quyền tài phán của Tòa án Canada đối với công chức nước ngoài.
- Jean-Bernard Auby, Emmanuel Breen và Thomas Perroud (2014) trong “Corruption and conflicts of interest: a comparative law approach” phân tích ranh giới giữa xung đột lợi ích và hành vi tham nhũng.
- Nghiên cứu của OECD (2015) “Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia” tổng hợp cơ chế xử lý TNHS của pháp nhân tại 25 quốc gia Đông Âu và Trung Á.
Tình hình nghiên cứu trong nước
Các công trình trong nước được chia thành hai nhóm chính:
- Nhóm nghiên cứu lý luận: Đề tài cấp nhà nước của Mai Quốc Bình (2009) về luận cứ khoa học xây dựng chiến lược PCTN đến năm 2020; Đề tài cấp Bộ của Trần Ngọc Liêm (2010) về vai trò của cơ quan thanh tra; Đề tài cấp Bộ của Đinh Văn Minh (2012) về quyền được thông tin của công dân; Đề tài cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội (2008) về tội phạm tham nhũng có tính chiếm đoạt; Sách của Phan Xuân Sơn và Phạm Thế Lực (2012); Sách "Lý luận chung về định tội danh" của GS.TS Võ Khánh Vinh (2013); Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Huệ (2016) về PCTN trong khu vực tư; các bài viết nghiên cứu của PGS. Trần Văn Độ (1993, 1997), GS. Hồ Trọng Ngũ (2001), TS. Lê Vương Long (2005).
- Nhóm nghiên cứu giải pháp và áp dụng pháp luật: Công trình của Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Văn Chinh (2011); bình luận khoa học BLHS của PGS. Phùng Thế Vắc (2001), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2001), Đinh Văn Quế (2002); bài viết phân tích điểm mới BLHS 2015 của Đào Lệ Thu (2018), Lê Thị Hoà.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ giải quyết các vấn đề lý luận chung hoặc phân tích luật thực định trên phạm vi rộng. Luận án của Trần Huy Đức chọn hướng tiếp cận liên ngành giữa khoa học luật hình sự, tội phạm học và xã hội học pháp luật, gắn kết lý luận cấu thành tội phạm với thực tiễn xét xử định tội danh và quyết định hình phạt đối với 7 tội danh tham nhũng trên địa bàn cụ thể là thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2007 - 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và tiếp cận nghiên cứu
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước liêm chính, chống "giặc nội xâm", quan liêu, lãng phí; quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách hình sự của Nhà nước về cải cách tư pháp.
- Cách tiếp cận: Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội: khoa học luật hình sự, xã hội học pháp luật hình sự, tội phạm học và luật học so sánh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Tác giả phân bổ các phương pháp nghiên cứu theo từng nội dung:
- Nghiên cứu lý luận và lịch sử (Chương 2): Phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, quy nạp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật để làm rõ nội hàm khái niệm, 4 yếu tố cấu thành tội phạm tham nhũng và quá trình lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước BLHS 2015.
- Nghiên cứu thực trạng và thực tiễn áp dụng (Chương 3): Phương pháp phân tích luật viết, phương pháp thống kê tư pháp, tổng hợp tài liệu, so sánh và điều tra xã hội học nhằm đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tại TAND thành phố Đà Nẵng.
- Xây dựng giải pháp (Chương 4): Phương pháp phân tích logic, tiếp cận hệ thống và dự báo xã hội học để xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết số 21/NQ-CP năm 2009.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Sắc lệnh số 223/SL/1946, Sắc lệnh số 03/SL/1976, Pháp lệnh năm 1981, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009), BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017), Luật PCTN các năm 2005, 2018.
- Báo cáo thống kê ngành Tòa án giai đoạn 2016 - 2017, Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN, Báo cáo chỉ số CPI của Tổ chức Minh bạch Quốc tế.
- Hồ sơ các vụ án hình sự về tham nhũng được xét xử tại hệ thống TAND thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017 (thể hiện qua Bảng 3.1).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tội phạm tham nhũng. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu quốc tế chú trọng cơ chế bảo đảm liêm chính trong thực thi công vụ, xung đột lợi ích và trách nhiệm pháp nhân, trong khi nghiên cứu trong nước tập trung vào các biện pháp phòng ngừa hành chính và phân tích quy định thực định. Chương này xác định các yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu về mặt luật hình sự và tố tụng hình sự, đặc biệt là lý luận định tội danh theo cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng, trường hợp đồng phạm và nguyên tắc quyết định hình phạt từ thực tiễn địa phương.
Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
Chương 2 làm rõ nguồn gốc xã hội, bản chất pháp lý và lịch sử lập pháp về tội phạm tham nhũng:
-
Bản chất và nguồn gốc: Tham nhũng xuất hiện cùng với sự phân chia giai cấp, sự ra đời của Nhà nước, quyền lực công và tâm lý tư lợi cá nhân. Tham nhũng là hiện tượng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của bộ máy nhà nước.
-
Định nghĩa tội phạm tham nhũng: Luận án đưa ra định nghĩa:
"Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong xã hội; xâm phạm uy tín của cơ quan, tổ chức; xâm phạm tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của công dân vì động cơ vụ lợi."
-
Bốn dấu hiệu pháp lý cấu thành:
- Khách thể: Khách thể loại là hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức kinh tế; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội cụ thể bị tội phạm trực tiếp xâm phạm.
- Mặt khách quan: Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn (trực tiếp thực hiện quyền hạn làm trái công vụ hoặc lợi dụng ảnh hưởng, vị trí công tác) dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội bao gồm thiệt hại vật chất (thất thoát tài sản) và phi vật chất (uy tín, niềm tin). Mối quan hệ nhân quả là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội có cấu thành vật chất.
- Chủ thể: Chủ thể đặc biệt — người có chức vụ, quyền hạn (do bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng, có lương hoặc không lương, theo Điều 352 BLHS).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý; mục đích hoặc động cơ vụ lợi (lợi ích vật chất hoặc phi vật chất) là dấu hiệu bắt buộc.
-
Lịch sử lập pháp hình sự: Khái quát quá trình quy định từ Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 (quy định tội hối lộ), Sắc lệnh số 03/SL ngày 15/3/1976 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và hối lộ), Pháp lệnh trừng trị các tội phạm về hối lộ ngày 20/5/1981, BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009).
Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3 phân tích 7 tội danh tham nhũng được quy định tại Mục 1 Chương XXIII BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn xét xử tại Đà Nẵng:
| STT |
Tội danh theo BLHS 2015 (sửa đổi 2017) |
Điều luật |
| 1 |
Tội tham ô tài sản |
Điều 353 |
| 2 |
Tội nhận hối lộ |
Điều 354 |
| 3 |
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản |
Điều 355 |
| 4 |
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ |
Điều 356 |
| 5 |
Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ |
Điều 357 |
| 6 |
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi |
Điều 358 |
| 7 |
Tội giả mạo trong công tác |
Điều 359 |
- Điểm mới của BLHS 2015: Mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi tham ô tài sản và nhận hối lộ sang khu vực ngoài nhà nước (khoản 6 Điều 353 và khoản 6 Điều 354). Quy định chi tiết các khung định lượng thiệt hại tài sản (từ dưới 2 triệu đồng kèm điều kiện đến từ 1 tỉ đồng trở lên đối với mức hình phạt cao nhất).
- Thực tiễn áp dụng tại Đà Nẵng (2007 - 2017): Phân tích các số liệu xét xử (tổng hợp tại Bảng 3.1 của luận án). Đánh giá việc định tội danh, phân hóa trách nhiệm hình sự trong các vụ án đồng phạm, quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp tư pháp nhằm thu hồi tài sản tham nhũng. Phân tích nguyên nhân dẫn đến các sai sót bị cấp phúc thẩm sửa án hoặc kháng nghị.
Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng
Chương 4 xác định các yêu cầu và đề xuất các nhóm giải pháp:
- Yêu cầu áp dụng: Bảo đảm tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm tính nghiêm minh và phân hóa trách nhiệm hình sự; tăng cường hiệu quả thu hồi tài sản bị chiếm đoạt.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự: Giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất các dấu hiệu định tội, định khung; hoàn thiện quy định về xử lý hành vi tham nhũng trong khu vực công và khu vực tư.
- Giải pháp nâng cao năng lực cơ quan tiến hành tố tụng: Tăng cường năng lực chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên tại địa phương.
- Giải pháp phối hợp liên ngành: Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan Thanh tra, Công an, Viện kiểm sát và Tòa án trong phát hiện, chuyển giao và xử lý tin báo, hồ sơ vụ án tham nhũng.
- Giải pháp về điều kiện bảo đảm: Nâng cao điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật giám định tài chính, tư pháp phục vụ chứng minh tội phạm tham nhũng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án nêu 4 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Làm rõ tính quyết định xã hội của quy định pháp luật: Phân tích mối quan hệ giữa chính sách hình sự của Nhà nước, chủ trương của Đảng và các quy định pháp luật hình sự về tội phạm tham nhũng; chứng minh các quy định này là công cụ thể chế hóa đường lối chính trị - pháp lý.
- Hệ thống hóa và phát triển lý luận cấu thành tội phạm: Xác định rõ nội hàm khái niệm tội phạm tham nhũng trên nền tảng tội phạm chức vụ; làm rõ 4 yếu tố cấu thành (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan) và các tiêu chí phân biệt tội phạm tham nhũng với các tội phạm chức vụ khác và tội phạm xâm phạm sở hữu.
- Tổng kết thực tiễn xét xử chuyên sâu tại địa bàn Đà Nẵng: Đánh giá thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt trong 10 năm (2007 - 2017) tại TAND thành phố Đà Nẵng, chỉ ra những vướng mắc cụ thể trong xử lý các vụ án tham nhũng liên quan đến đất đai và tài sản công.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự và giải pháp nâng cao hiệu lực áp dụng pháp luật trong công tác xét xử tại Tòa án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án giới hạn tại địa bàn thành phố Đà Nẵng và số liệu xét xử dừng ở mốc thời gian năm 2017 (trước thời điểm BLHS 2015 sửa đổi 2017 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát và đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử 7 tội danh tham nhũng theo BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) sau nhiều năm thi hành.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh thực tiễn xét xử giữa các đô thị trực thuộc Trung ương.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế xử lý hành vi tham ô, nhận hối lộ trong khu vực tư và cơ chế xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội phạm tham nhũng theo chuẩn mực quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự; hỗ trợ giảng dạy học phần Các tội phạm chức vụ.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở lý luận và chỉ dẫn thực tiễn cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong việc định tội danh, đánh giá chứng cứ và cá thể hóa hình phạt đối với các vụ án tham nhũng phức tạp.
- Đối với cơ quan quản lý và lập pháp: Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác rà soát, giải thích áp dụng pháp luật và hoàn thiện chính sách hình sự về phòng, chống tham nhũng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về các tội phạm về tham nhũng?
Luận án xác định các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ; xâm phạm hoạt động đúng đắn và uy tín của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong xã hội; xâm phạm tài sản, lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân vì động cơ vụ lợi.
2. BLHS năm 2015 quy định bao nhiêu tội danh tham nhũng?
BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định 7 tội danh về tham nhũng tại Mục 1 Chương XXIII (Điều 353 đến Điều 359), bao gồm: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác.
3. Phạm vi không gian và thời gian khảo sát thực tiễn của luận án là gì?
Luận án giới hạn phạm vi không gian nghiên cứu tại thành phố Đà Nẵng và phạm vi thời gian thu thập số liệu thực tiễn xét xử trong 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.
4. Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của các tội phạm tham nhũng là gì?
Dấu hiệu bắt buộc là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn (trực tiếp sử dụng quyền hạn được giao hoặc lợi dụng vị trí, uy tín công tác để làm trái công vụ). Đối với các tội có cấu thành vật chất, dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội (thiệt hại tài sản hoặc phi vật chất) và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là yếu tố cấu thành bắt buộc. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359) là tội duy nhất trong nhóm không có dấu hiệu hậu quả vật chất là yếu tố bắt buộc ở cấu thành cơ bản.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào?
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh pháp luật, thống kê tư pháp và điều tra xã hội học.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Huy Đức đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tội phạm tham nhũng và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước BLHS năm 2015. Trên cơ sở phân tích quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) và khảo sát thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 - 2017, tác giả chỉ ra các vướng mắc trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với 7 tội danh tham nhũng. Công trình đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp, tư pháp và tổ chức thực thi nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm tham nhũng trong tình hình mới.