Chương 1: Một số vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp Việt Nam về hình phạt tiền. Luận văn thạc sĩ Luật học Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt tiền. Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền và một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng đúng hình phạt tiền. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT TIỀN 1.
Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền 1. Khái niệm hình phạt tiền Trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt cùng chế định tội phạm là những chế định quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam. Để làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt tiền, trước hết cần phải làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của hình phạt nói chung. BLHS năm 1985 cũng như trong các văn bản pháp luật hình sự trước đó chưa có khái niệm pháp lý về hình phạt, song trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo có rất nhiều quan điểm về khái niệm của hình phạt.
Có thể viện dẫn một vài quan điểm sau đây: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất quy định trong luật hình sự được Luận Toà án ápvăn thạc dụng cho chínhsĩ Luật người học đã thực hiện tội phạm nhằm trừng trị và cải tạo họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Quan điểm này đã lồng ghép cả mục đích của hình phạt vào nội dung khái niệm của hình phạt nhưng lại chưa chỉ ra thuộc tính, bản chất và nội dung của hình phạt như là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Việc cho rằng hình phạt được áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm là không cần thiết, mà chỉ cần nêu là áp dụng cho người phạm tội hoặc người bị kết án là đủ. Việc cho rằng hình phạt có mục đích nhằm …bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là không cần thiết vì đây là nhiệm vụ chung của Bộ luật hình sự.
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Toà án quyết định trong bản án với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án. Ưu điểm của quan điểm này là khái niệm ngắn gọn, chỉ ra được thuộc tính và nội dung của hình phạt là tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích đối với người bị kết án. 8 Tuy nhiên quan điểm này cũng cho rằng hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm là quá dài mà chỉ cần nêu là đối với người bị kết án hay người phạm tội thì tính khái quát cao hơn. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Toà án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới.
“Hình phạt là biện cưỡng chế Nhà nước được luật hình sự quy định và do Toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, nhằm trừng trị, giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Ở cả hai quan điểm trên đều chỉ ra được thuộc tính, nội dung của hình phạt là tước đoạt hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, chỉ ra đối tượng bị áp dụng hình phạt là người phạm tội, chỉ ra cơ quan có thẩm quyền áp dụng hình phạt là Tòa án và hình phạt phải được quy định trong luật, nhưng các quan điểm trên đều lồng ghép cả mục đích Luận của hình phạt vào trong văncủathạc khái niệm sĩlàLuật hình phạt học không cần thiết. “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước đoạt hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định” [1].
Quan điểm của tác giả luận văn thống nhất với khái niệm về hình phạt theo quy định của BLHS năm 1999. Mặc dù có nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về hình phạt nhưng có thể chỉ ra một số đặc điểm, đặc trưng cơ bản của hình phạt. Đó là: - Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế. Hình phạt chỉ có thể được áp dụng đối với người có hành vi phạm tội.
Hình phạt phải được quy định trong BLHS. Hình phạt phải do Tòa án quyết định áp dụng theo một trình tự thủ tục riêng biệt. * Đối với hình phạt tiền cũng vậy cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa pháp lý chính thức nào về hình phạt tiền trong các văn bản pháp luật hình sự dưới góc độ luật thực định. Hình phạt tiền có tên gọi tiếng Pháp là “amende”, tiếng Đức là “geldstrafe”, 9 tiếng Anh là “fine” và tiếng Ả rập là “diya” và nó thể hiện trong “Fridensgeld” hoặc “argent de la paix”, nghĩa là số tiền nhất định mà người phạm tội phải nộp cho cộng đồng để thiết lập lại hòa bình thông qua quyết định tư pháp của quan tòa [53, tr.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, trong các giáo trình, các sách báo pháp lí chuyên ngành có nhiều khái niệm khác nhau về hình phạt tiền. Có thể chỉ ra một số quan điểm sau: “ Phạt tiền là một loại hình phạt được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung, khi hình phạt chính là loại hình phạt khác. Phạt tiền do Tòa án quyết định trong những trường hợp do luật định mà theo đó người bị kết án bị tước một số tiền tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, đồng thời xem xét đến tình hình tài sản của người bị kết án và sự biến động của giá cả” [45, tr. Định nghĩa này quá dài, quá chi tiết, lồng ghép cả vai trò, vị trí của hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt, cũng như căn cứ, điều kiện khi quyết định hình phạt tiền trong khái niệm là không cần thiết.
“Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo không giam giữ, buộc người bịLuận văn kết án phải thạc nộp sung sĩquỹLuật công học nhà nước một khoản tiền nhất định” [22, tr. Cũng tương tự như trên, định nghĩa này đã đưa vị trí của hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính trong hệ thống hình phạt vào trong khái niệm của mình và cho rằng phạt tiền là hình phạt không tước tự do là không cần thiết. “Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước” [19, tr. Về cơ bản, các quan điểm trên về hình phạt tiền là thống nhất đều “ tước đi một khoản tiền nhất định ” song các khái niệm này còn chưa thực sự phù hợp với một khái niệm mang tính chất pháp lý.
Thuật ngữ “ người phạm tội và “ người bị kết án ” được sử dụng không nhất quán, tuy đều được dùng để chỉ đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền. Theo quan điểm của tác giả sẽ là chính xác hơn nếu sử dụng thuật ngữ “ người bị kết án ” thay cho thuật ngữ “ người phạm tội ” trong các khái niệm về hình phạt tiền. Bởi lẽ, chỉ có người bị kết án mới phải chịu hình phạt, còn người phạm tội chỉ phải chịu hình phạt nếu bị kết án theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Qua nghiên cứu các quan điểm về hình phạt tiền trên có thể đưa ra một định 10 nghĩa ngắn gọn như sau: “Phạt tiền là hình phạt tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước”.
Đây là khái niệm ngắn gọn phản ánh tương đối đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cũng như nội dung pháp lý của hình phạt tiền. Là một hình phạt trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS Việt Nam, hình phạt tiền mang đầy đủ những đặc điểm đặc trưng của hình phạt với tư cách là chế tài hình sự, đồng thời cũng có những đặc điểm đặc trưng riêng của nó. Cụ thể: Một là, hình phạt tiền là một trong những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước. So sánh với phạt tiền được quy định trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước thì phạt tiền với tư cách là một hình phạt được quy định trong BLHS mang tính cưỡng chế nghiêm khắc hơn cả.
Bản chất, nội dung và thuộc tính pháp lý của hình phạt tiền thể hiện ở việc nó tước đi của người phạm tội một khoản tiền nhất định, nghĩa là trực tiếp làm hạn chế về mặt lợi ích vật chất của người phạm tội, qua đó răn đe giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. Người bị kết án phạt tiền còn phải gánh chịu hậu quả là phải mang án tích trong một khoảng thời Luận gian nhất định. Mức văn tiền phạt thạc tối thiểu sĩ đaLuật và tối học trong luật hình sự cũng cao hơn so với quy định về phạt tiền trong các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước. Hai là, hình phạt tiền phải được quy định trong BLHS.
Cũng như các loại hình phạt khác trong luật hình sự, hình phạt tiền phải được quy định trong văn bản luật hình sự, cụ thể là BLHS. Trong BLHS năm 1999, hình phạt tiền được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm. Phần chung quy định điều kiện, nội dung, phạm vi, nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền và các quy định khác có liên quan đến hình phạt tiền, cách thức thi hành hình phạt tiền. Phần các tội phạm quy định hình phạt tiền với tư cách hình phạt chính hay hình phạt bổ sung với các tội phạm cụ thể.
Ba là, hình phạt tiền phải do Tòa án quyết định đối với người phạm tội theo một trình tự riêng biệt. Theo quy định của pháp luật thì Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền nhân danh Nhà nước áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS.