Chương I: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương II: Quy trình và phương pháp nghiên cứu. Chương III: Kết quả nghiên cứu. Chương IV:Giải pháp nâng cao nhận thức về tiêu dùng bền vững của sinh viên ĐHQGNN trên cơ sở các nguyên lý của Kinh tế hành vi 13 CHUONG 1 : TONG QUAN DE TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan một số nghiên cứu luên quan đến hành vi tiêu dùng và những yếu tố tác động đến ý định mua thiết bị điện tử đã qua sử dụng 1.
Tổng quan về Kinh tế học hành vi Hursh (1984) đưa ra quan điểm Kinh tế học hành vi tương tự như tâm lý học hành vi, là nghiên cứu về hành vi, nhưng tập trung vào hành vi con người, đặc biệt trong môi trường có tô chức. Sự giá tri của các khái niệm kinh tế đối với tâm lý học hành vi dựa trên hai tiêu chí quan trọng: tính hợp lệ thực nghiệm khi thử nghiệm với cá nhân trong phòng thí nghiệm và sự độc đáo so với các khái niệm hành vi đã được xác định. Nhiều khái niệm căn bản đã được giới thiệu và minh họa thông qua dữ liệu thực nghiệm. Điều này bao gồm các khái niệm về kinh tế mở và đóng, nhu cầu đàn hồi và không đàn hồi, cũng như sự thay thế và sự bồ sung trong lựa chọn.
Nghiên cứu cũng tập trung vào việc mở rộng phân tích kinh tế cho các hoạt động yêu cầu sự phân biệt tinh tế hoặc các chuyên động kỹ thuật khác về độ chính xác hoặc chất lượng thay vì tốc độ hoặc số lượng. Sự giá tri của các khái niệm kinh tế đối với tâm lý học hành vi dựa trên tính hợp lệ thực nghiệm khi thử nghiệm với cá nhân và tính độc đáo so với các khái niệm hành vi đã được xác định. Phân tích đường cầu nhu cầu cung cấp một phương pháp trực tiếp để xác định tác động của các biến thường được mô tả là "các biến thúc đây." Hai tham số quan trọng trong kinh tế học - tính đàn hồi và cường độ - đã được xem xét, và các biến được đề xuất mà có thé thay đôi chúng. và nghiên cứu và lý thuyết hành vi trong tương lai, phương tiện kinh tế học đề xuất một cách tiếp cận mới về qua trình thúc day, trong do ca hiéu suất và tỷ lệ tiêu thụ được xem xét như các kết quả của việc điều chỉnh dưới áp lực của môi trường.
Phương tiện này cũng có thê hướng dẫn việc nghiên cứu về các hoạt động yêu cầu sự phân biệt tinh tế hoặc các chuyền động kỹ thuật khác nhau, chăng hạn là trong việc đánh giá quan hệ thời gian và độ chính xác. 14 Cartwright (2018) với sách nghiên cứu về Kinh tế học hành vi với luận điểm nêu ra rằng Kinh tế học hành vi đã cách mạng hóa kinh tế trong vài thập kỷ qua. Điều này đã xảy ra bằng cách đưa con người trở lại trong lĩnh vực kinh tế, bằng việc thừa nhận rằng con người đôi khi mắc sai lầm, quan tâm đến người khác và chúng ta không phải lúc nào cũng lạnh lùng và tính toán như mà các nhà kinh tế thường nghĩ. Kết quả đã mang lại sự thú vị, hap dan và đã thay đôi một cách cơ bản cách chúng ta nhìn vào hành vi kinh tế.
Tat cả các kết quả và thông tin quan trọng của kinh tế học hành vi được giới thiệu ở một cách dễ hiểu, với các ý tưởng quan trọng như tài khoản tinh thần, lý thuyết triển vọng, thiên vi hiện tai, sự ghét bat bình dang và học tập được giải thích chi tiết. Những thông tin này cũng được áp dụng trong các tình huéng đa dang dé cho bạn thấy tai sao kinh tế học hành vi quan trọng dé hiéu thé giới xung quanh chúng ta. Cuốn sách bao gồm dau giá, sụp đồ thị trường chứng khoán, việc quyên góp từ thiện, chăm sóc sức khỏe, tiết kiệm cho hưu trí, bất bình đăng giới, sự nghiện, và nhiều vấn đề khác. Chủ đề hấp dẫn về neuroeconomics cũng được bàn rõ, cũng như vai trò mà tiến hóa và văn hóa có thé đã choi trong việc định hình hành vi kinh tế hiện đại.
Sách cũng xem xét về điều gì làm cho con người hạnh phúc và cách chúng ta có thé thúc day họ trở nên hạnh phúc hơn. Điều này tạo nên một cuốn sách toàn diện và dê tiép cận sẽ có giá trị lớn đôi với các sinh viên sử dụng nó. Camerer (1999) nghiên cứu rằng "Học thuyết hành vi kinh tế" là một lĩnh vực đang cải thiện tính thực tế của các giả định tâm lý ở trong lý thuyết kinh tế. Nó hứa hẹn kết hợp tâm lý học và kinh tế, từ đó dẫn đến kh"Học thuyết hành vi kinh tế" là một lĩnh vực đang cải thiện tính thực tế của các giả định tâm lý ở trong lý thuyết kinh tế.
Nó hứa hẹn kết hợp tâm lý học và kinh tế, từ đó dẫn đến khả năng dự đoán tốt hơn về hành vi kinh tế và đề xuất chính sách tốt hơn khả năng dự đoán tốt hơn về hành vi kinh tế và đề xuất chính sách tốt hơn. Sự phản đối duy nhất đối với kinh tế học hành vi dựa vào lo ngại tiêu cực rằng bằng chứng tâm lý học quá mảnh vụn dé đề xuất các giả thuyết thay thế thống nhất. Tuy nhiên, điều này không đúng khi có bốn lần chứng minh trái lại rằng lo ngại này là không chính xác. Mặc dù tối ưu hóa tiện ích và cập nhật Bayesian khá khó thay thế, nhưng có nhiều ý tưởng đang phát triển.
Kinh tế học hành vi đã được sử dụng để giải thích và dự đoán các 15 hiện tượng thực tế, bao gồm giải thích các biéu đồ giá trên thị trường chứng khoán, phản ứng không đối xứng của người tiêu dùng đối với sự tăng và giảm giá và dự đoán hình dạng xuống dốc của nguồn cung lao động của tài xế taxi. Kinh tế học hành vi cũng có thé cung cấp cơ sở thực tế hơn đề xây dựng chính sách kinh tế. Do người hợp lý thực hiện ít sai lầm, nên không cần thiết phải có chính sách đề giúp họ. Tuy nhiên, việc nới lỏng những giả định hợp lý cho phép đưa ra lập luận cơ sở về cách giúp đỡ con người trong các ý định tài chính.
Các nhà kinh tế học hành vi hy vọng rằng trong tương lai, các giả định hợp lý, chăng hạn như giảm giá theo cấp số mũ, lợi ích riêng, hoặc thậm chí cân bằng, sẽ được coi là các ví dụ đặc biệt của các lý thuyết tổng quát hơn, giống như việc sử dụng các hình thức chức năng đơn giản thay vì các hình thức tổng quát hơn chỉ vì tính đơn giản của chúng. Điều này sẽ làm cho kinh tế học hành vi trở thành một phần của kinh tế học, thể hiện sự thống nhất lành mạnh giữa tâm lý học và kinh tế. (1995) với bài nghiên cứu Phân tích Thực nghiệm về Hành vi tập trung vào lĩnh vực Kinh tế Hành vi, một lĩnh vực nghiên cứu và lý thuyết đang mở rộng trong phân tích hành vi thực nghiệm. Kinh tế hành vi lần đầu tiên được đề cập trong tạp chí này vào năm 1975 qua báo cáo thực nghiệm của Green và Rachlin.
Kể từ đó, có sự gia tăng đáng kế về các bài viết về kinh tế hành vi, đạt đỉnh vào giai đoạn từ 1991 đến 1993. Theo tác giả, sự hấp dẫn của Kinh tế Hành vi không phải do danh tiếng của nó mà do giá trị thực tế của nó. Kinh tế cung cấp kiến thức đa dạng và khái niệm hấp dẫn, mở ra các biến số độc lập mới, phương pháp phân tích mới và đo lường mới. Điều này khuyến khích một cách mới trong việc hiệu về sự lựa chọn và hiệu suất thời gian.
Tuy nhiên, cần nhiều công việc hơn dé xác định rõ ràng về Kinh tế Hành vi có thé làm cho lĩnh vực phân tích hành vi. Tác giả nhận thấy răng không phải mọi tiếp cận kinh tế đều liên quan đến hợp lý và tối ưu hóa tiện ích. Thành công của Kinh tế Hành vi phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc mô tả và dự đoán hành vi trong các ràng buộc biến đổi, đề xuất giải thích mới và đề xuất kiến thức và ứng dụng mới. Tổng quan về kinh tế tuần hoàn 16 Nguyen (2022) tập trung vào quan niệm và quan điểm về kinh tế tuần hoàn.
Mặc dù khái niệm này đã tồn tại từ lâu, nhưng không có sự thống nhất trong các quan điểm về nó. Nghiên cứu tổng hợp các quan điểm khác nhau về kinh tế tuần hoàn, bao gồm từ quan điểm đơn giản về tuần hoàn chất thải đến quan điểm phức tạp như tái thiết kế hệ thống sản xuất và hiệu quả sinh thái. Thuật ngữ "kinh tế tuần hoàn" được chính thức đặt ra vào năm 1990, nhưng ý tưởng này đã tồn tại từ trước đó trong công trình của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu cũng nói về chiến lược phát triển kinh tế thương mại bền vững cho Việt Nam, với sự tập trung vào tái sử dụng, tái chế, và giảm thiểu tác động đến môi trường.
Chiến lược này đã được chính thức tích hợp vào pháp luật và chính sách quốc gia, bao gồm cả việc giảm khai thác tài nguyên, tăng cường tái sử dụng và tái chế, và phát triển nguồn năng lượng tái tạo. Hiền & Thảo (2019) tập trung vào thách thức và sự cấp thiết của xử lý chất thải điện tử ở Việt Nam. Bài nghiên cứu phân tích thực trạng của chất thải điện tử, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân, và thách thức trong quá trình tái chế chất thải điện tử. Tác giả cũng rút ra bài học từ các nước khác, sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, và phân tích đữ liệu thứ cấp từ năm 2010-2018.
Hạn chế ở Việt Nam bao gom việc chưa có định nghĩa chính thức về chất thải điện tử và hệ thống phân loại chưa rõ ràng. Ngành công nghiệp tái chế chất thải điện tử còn chưa 6n định, và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chưa được xây dựng mạnh mẽ. Nghiên cứu đề xuất một số chính sách, bao gồm việc xây dựng chương trình quốc gia về tái chế chat thải điện tử và nâng cao hoạt động tuyên truyền dé phát triển quá trình tái chế rác thải điện tử tại Việt Nam. Onokpise (2022) tập trung vào quản lý và tái chế rác thải điện tử một cách hiệu quả mà không tác động đến môi trường.
Câu hỏi nghiên cứu xoay quanh ảnh hưởng đến sự lựa chọn và quản lý tái chế thiết bị điện tử đã qua sử dụng.