TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP -------------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: NGHIÊN CỨU VÀ ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM Giảng viên hướng dẫn: GS. TRẦN NGỌC THƠ Sinh viên thực hiện: LƯ KIỀU HẠNH Lớp: TC11 – Khóa: 33 MSSV: 107207110 TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2011 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ LỜI GIỚI THIỆU Lí thuyết bộ ba bất khả thi từ lúc ra đời cho đến ngày hôm nay luôn là đề tài nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm. Bắt đầu từ mô hình cơ bản-mô hình Mundell- Fleming- do hai giáo sư Robert Mundell và J.Fleming đặt những viên gạch đầu tiên, sau đó lí thuyết bộ ba bất khả thi được mở rộng qua nghiên cứu của Yigang và Tangxian hay được nâng lên thành thuyết tứ diện trong nghiên cứu của Goubing Shen và gần đây là những nghiên cứu định lượng cho bộ ba bất khả thi. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy mức ảnh hưởng của bộ ba bất khả thi đến nền kinh tế nên việc nghiên cứu lí thuyết này là việc rất cần thiết. Những ứng xử không đúng với bộ ba sẽ làm nền kinh tế hỗn loạn (lấy ví dụ như tình hình Việt Nam trong năm 2008) nhưng ngược lại khéo léo hơn trong vận dụng lí thuyết bộ ba bất khả thi sẽ có những tác động rất tích cực (lấy ví dụ trường hợp của Ấn Độ trong cuộc khủng hoảng Châu Á). Chính vì thế, trong bài viết này chúng tôi cũng muốn xem xét lại bộ ba bất khả thi và việc vận dụng lí thuyết này ở Việt Nam như thế nào. Bài viết của chúng tôi gồm 4 phần chính. Trong phần đầu chúng tôi sẽ khái quát lại lí thuyết bộ ba bất khả thi từ lúc mới ra đời cho đến những thay đổi gần đây. Cũng trong phần này, chúng tôi đặc biệt phân tích kĩ những nghiên cứu định lượng cho các nhân tố trong bộ ba. Chúng tôi sẽ phân tích những ưu, khuyết cũng như tính thích hợp vận dụng vào Việt Nam. Dựa trên những phân tích trong phần 1, chúng tôi tiến hành định lượng cho các nhân tố bộ ba bất khả thi của Việt Nam trong phần 2. Trong phần này chúng tôi nhận thấy cần xây dựng thêm chỉ số TT để phản ánh mức độ độc lập tiền tệ thay vì sử dụng những chỉ số trong các bài viết trước. Sau khi tính toán các chỉ số cần thiết, trong phần 3 chúng tôi mở rộng nghiên cứu của mình bằng cách phân tích tác động của bộ ba đến các biến kinh tế vĩ mô, không phải là những phân tích định tính mà chúng tôi sử dụng mô hình hồi qui với các chỉ số được tính toán trong phần 2. Cuối cùng trong phần 4 chúng tôi đưa ra một số kiến nghị dựa vào các kết quả hồi qui thu được kết hợp với phân tích định tính tình hình cụ thể của Việt Nam trong thời gian gần đây. 1 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ MỤC LỤC Lời mở đầu Lời cảm ơn CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI.1 Khái niệm bộ ba bất khả thi.2 Những phát triển của lý thuyết bộ ba bất khả thi trong những thập niên vừa qua.1 Mô hình Mundell-Fleming (mô hình nền tảng).2 Các mở rộng mang tính trung gian của bộ ba bất khả thi.3 Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối.1 Mô hình tài chính bất định của Maurice Obstsefd, Jay C.2 Tiền tệ độc lập và vai trò của dự trữ ngoại hối.16 CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM.1 Cơ sở xây dựng phương pháp đo lường.1 Chỉ số tiền tệ độc lập.2 Tỷ giá cố định.3 Độ mở của tài chính.2 Đo lường bộ ba bất khả thi cho Việt Nam.1 Tự do hóa dòng vốn.2 Ổn định tỷ giá.3 Tiền tệ độc lập. 29 CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HỒI QUY.1 Xây dựng hàm hồi quy giữa các biến kinh tế vĩ mô và các yếu tố của bộ ba bất khả thi33 3.1 Mô hình cơ bản.2 Các biến của mô hình – Dữ liệu hồi quy.2 Kết quả ước lượng mô hình – Kết luận.1 Mô hình thực nghiệm.2 Sản lượng quốc gia và bộ ba bất khả thi.3 Lạm phát và bộ ba bất khả thi.40 CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT.1Ảnh hưởng của bộ ba bất khả thi lên điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây (2007 đến 2010).44 2 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ 4.2 Đề xuất chính sách điều hành bộ ba bất khả thi.46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.49 PHỤ LỤC 1: Chỉ số KAOPEN (Chỉ số Chinn-Ito) được tính toán cho Việt Nam 48 PHỤ LỤC 2: Chỉ số ERS (Chỉ số đại diện cho mức độ ổn định tỷ giá) được tính toán cho Việt Nam. 49 PHỤ LỤC 3: Kiểm định chỉ số TT (Chỉ số định lượng độc lập tiền tệ).50 PHỤ LỤC 4: Chỉ số MI (Chỉ số độc lập tiền tệ) được tính cho Việt Nam - theo công thức của Aizeman, Chinn và Ito.52 PHỤ LỤC 5: Dữ liệu hồi quy (tất cả các số liệu đều được tính toán cho Việt Nam) . 52 PHỤ LỤC 6: Kiểm định tính dừng cho các chuỗi số liệu – Sử dụng phép kiểm định nghiệm đơn vị.53 Kết luận 3 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI 1.1 Khái niệm bộ ba bất khả thi Bộ ba bất khả thi không phải là một khái niệm mới mẻ trong kinh tế học. Bộ ba bất khả thi với vai trò là một trong những lý thuyết tài chính quốc tế nền tảng, đã được đề cập từ rất sớm trong khoảng thập niên 60. Và khi nền kinh tế thế giới càng phát triển đi kèm với nó là xu hướng hợp tác quốc tế hay nói cách khác là xu hướng toàn cầu hóa, nền kinh tế của một quốc gia không chỉ gói gọn trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia, sự phát triển của quốc gia phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố quốc tế, thì khi đó lý thuyết bộ ba bất khả thi càng ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm hơn. Trải qua hơn 5 thập kỷ, lý thuyết bộ ba bất khả thi đã được bổ sung thêm nhiều nhân tố nhằm phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình kinh tế thế giới, chúng ta sẽ quay trở lại vấn đề này ở phần sau. Tuy nhiên, nội dung cơ bản của lý thuyết vẫn bao gồm ba yếu tố chính hay còn gọi là ba cạnh của tam giác, đó là tỷ giá, chính sách tiền tệ và dòng vốn ra vào của quốc gia. Lý thuyết bộ ba bất khả thi phát biểu như sau: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện được 3 mục tiêu kinh tế vĩ mô: Tự do hóa dòng vốn. Cố định tỷ giá. Chính sách tiền tệ độc lập. 4 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ Hoặc đơn giản hơn, chúng ta có thể gói gọn lý thuyết này trong sơ đồ sau: 1.2 Những phát triển của lý thuyết bộ ba bất khả thi trong những thập niên vừa qua 1.1 Mô hình Mundell-Fleming (mô hình nền tảng) Khởi đầu từ mô hình IS-LM trong nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ đến sản lượng quốc gia, các nhà nghiên cứu dần dần mở rộng bằng việc đưa thêm các yếu tố nước ngoài vào. Với bối cảnh toàn cầu hóa, thì đề tài này thật sự là những tranh luận hấp dẫn. Tuy nhiên, trước năm 1960, phần lớn những đóng góp này đều chỉ dừng lại ở mức là những tranh luận hấp dẫn. Nỗ lực thành công nhất trong việc đưa yếu tố nước ngoài vào được xem là của “mô hình Mundell-Fleming”. “Mô hình Mundell-Fleming” là kết quả nghiên cứu của hai giáo sư Robert Mundell và J.Fleming trong việc mở rộng mô hình IS-LM cổ điển khi có tính đến tác động của cán cân thanh toán. Mô hình Mundell-Fleming được xem là chìa khóa cho sự ra đời của lý thuyết bộ ba bất khả thi nổi tiếng. Và bắt đầu từ những năm 1980 khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cũng như việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng 5 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ thì lý thuyết bộ ba bất khả thi trở thành một trong những lý thuyết nền tảng của kinh tế học vĩ mô. Mô hình Mundell-Fleming bắt đầu từ một số cân bằng cơ bản sau: Y=C + Y +G + NX (đường IS) Trong đó: Y là GDP, C là tiêu dùng, I là đầu tư quốc gia, G là chi tiêu chính phủ, NX là xuất khẩu ròng.Y) ( đường LM) Trong đó: M là cung tiền quốc gia, P là mức giá trung bình, I là lãi suất. BoP = CA+KA ( đường BoP) Trong đó: CA là tài khoản vãng lai, KA là tài khoản vốn. C=C(Y-T,i-E(π)) Trong đó: T là thuế suất, E(π) là lạm phát dự đoán. I=I(i-E(π),Y-1) Trong đó: Y-1 là GDP năm trước. NX= NX(e,Y,Y*) Trong đó: e là tỷ giá hối đoái, Y* GDP của nước ngoài. CA=NX KA=z(i-i*)+k 6 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ Trong đó: z là mức độ tự do hóa vốn, i* là lãi suất nước ngoài. Mô hình này kiểm tra tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ đến sản lượng quốc gia trong mối quan hệ với cán cân thanh toán trong hai trường hợp của chính sách tỷ giá: tỷ giá hối đoái thả nổi và tỷ giá hối đoái cố định. Trường hợp 1: tỷ giá thả nổi hoàn toàn IS" LM ' LM IS' r BP'' IS G BP BP' K J E r* O Yk* Y Y* Yj* Bắt đầu từ điểm cân bằng E, giao điểm của 3 đường IS, LM và BP. Lúc này có sự cân bằng trên cả thị trường hàng hóa lẫn tiền tệ và cán cân thanh toán không thặng dư cũng không thâm hụt. Sau đây, mô hình Mundell-Fleming sẽ chỉ ra tác động của những thay đổi trong chính sách tài khóa và tiền tệ đến cán cân thanh toán khi mà tỷ giá thả nổi hoàn toàn.
Luận văn tốt nghiệp: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu bộ ba bất khả thi ở Việt Nam, phân tích và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
Trường đại học
Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí MinhChuyên ngành
Tài Chính Doanh NghiệpNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Khóa Luận Tốt NghiệpPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Lư Kiều Hạnh
Người hướng dẫn: GS.TS Trần Ngọc Thơ
Trường học: Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Tài Chính Doanh Nghiệp
Đề tài: Nghiên Cứu Và Đo Lường Bộ Ba Bất Khả Thi Ở Việt Nam
Loại tài liệu: Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản: 2011
Địa điểm: Tp Hồ Chí Minh
Tài liệu "Nghiên cứu bộ ba bất khả thi tại Việt Nam: Đo lường và phân tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trong bối cảnh kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ đo lường các yếu tố ảnh hưởng mà còn phân tích cách thức mà các chính sách tiền tệ có thể tác động đến sự ổn định kinh tế. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về bộ ba bất khả thi, từ đó có thể áp dụng kiến thức này vào việc ra quyết định trong lĩnh vực tài chính và kinh tế.
Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá hối đoái và điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam, nơi phân tích sâu hơn về tác động của tỷ giá hối đoái đến chính sách tiền tệ. Ngoài ra, Tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại Việt Nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa tỷ giá và thương mại. Cuối cùng, Luận văn ảnh hưởng của truyền dẫn tỷ giá độ mở cửa thương mại đến tỷ lệ đánh đổi lạm phát sản lượng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức mà độ mở thương mại ảnh hưởng đến lạm phát. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về các khía cạnh liên quan đến chính sách tiền tệ và kinh tế vĩ mô tại Việt Nam.
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ