chương 1, chúng ta có thể thấy mức ảnh hưởng của lý thuyết bộ ba bất khả thi. Lý thuyết này nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế từ lúc nó mới ra đời cho đến nay. Theo thời gian lý thuyết này đã được bổ sung rất nhiều về mặt lý thuyết cũng như là các phương pháp đo lường sẽ được giới thiệu trong chương 2 dưới dây. 17 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM 2.1 Cơ sở xây dựng phương pháp đo lường.
Xét cho cùng các nghiên cứu đo lường bộ ba bất khả thi cũng là những mở rộng lý thuyết bộ ba bất khả thi. Các nhân tố của bộ ba giờ đây được đặt lên bàn cân để định lượng.1 Chỉ số tiền tệ độc lập. Có rất ít các nghiên cứu xây dựng phương pháp tính toán cho chỉ số tiền tệ độc lập. Bài nghiên cứu đầu tiên xây dựng phương pháp tính toán cho việc đo lường mức độ độc lập của chính sách tiền tệ ra đời vào năm 2008.
Đó là chỉ số MI (monetary independence) của 3 tác giả Joshua Aizeman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito. Sự hợp tác của 3 tác giả trong nghiên cứu của mình đã đưa ra phương pháp đo lường tiền tệ độc lập thông qua chỉ số MI có thể xem là nền tảng cho những nghiên cứu sâu hơn. MI được tính toán như sau: Trong đó ii là lãi suất thị trường tiền tệ của quốc gia ( quốc gia 1), i j là lãi suất của quốc gia (quốc gia 2) được chọn làm chuẩn so sánh.
Quốc gia (quốc gia 2) đươc chọn làm chuẩn là quốc gia mà chính sách tiền tệ của quốc gia 1 có mối liên hệ mật thiết hoặc bị ảnh hưởng nhiều nhất. MI sẽ có giá trị từ 0 đến 1. Giá trị của MI càng cao thì chứng tỏ mức độc lập trong chính sách tiền tệ của quốc gia càng cao. Bài nghiên cứu của Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar Sahoo (11/2010) đã phân tích kĩ hơn về chỉ số MI của tác giả Joshua Aizeman.
MI được tính toán bằng mối tương quan giữa lãi suất quốc gia và quốc gia làm chuẩn, theo như Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar Sahoo ( 11-2010) nhận xét thì 18 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ MI còn khá nhiều thiếu sót. Theo lập luận của các tác giả trong bài viết của mình thì cách tính của MI sẽ không loại bỏ được những kết luận sai do hiện tượng tương quan giả giữa 2 mức lãi suất, hoặc MI sẽ không phản ánh được mức độ độc lập nếu lãi suất trong năm đó đứng yên. Thêm vào đó, MI là chỉ số thống kê hằng năm nên sẽ không phản ánh được những thay đổi vào các thời gian giữa năm. Vì những hạn chế trên của MI nên các tác giả đã xây dựng một chỉ số đo lường hoàn toàn mới dựa trên 3 nhân tố là mức độ phát triển thị trường tài chính, dự trữ quốc gia và biến giả chính sách tỷ giá mà quốc gia lựa chọn.
Thực chất, các tác giả dựa vào tính chất mối quan hệ giữa các biến để đưa ra phương trình hồi quy. Với bộ dữ liệu các nhân tố qua nhiều năm, tác giả sẽ tính toán được các hệ số hồi quy. Bằng một vài biến đổi kết hợp với việc thay các hệ số hồi quy mới tìm được vào công thức thì các tác giả sẽ tính được mức độ độc lập tiền tệ của 1 quốc gia. Cụ thể, phương trình hồi quy và các biến đổi như sau: Đây là phương trình hồi quy ban đầu nhằm tìm ra các hệ số hồi quy β,γ,δ.
Trong đó, DIR là lãi suất của quốc gia, UIR là lãi suất của Mỹ. FNI là chỉ số tự do hóa tài chính. RGF là biến giả đặc trưng cho chính sách tỷ giá của quốc gia (RGF=1 khi quốc gia chọn chế độ tỷ giá thả nổi, RGF=0 cho những trường hợp còn lại). RES là dự trữ quốc gia.
Theo như lý thuyết bộ ba bất khả thi, hệ số β phải mang giá trị dương, hệ số γ phải mang giá trị âm và δ mang giá trị âm. Sau đó, các hệ số này sẽ được thay vào công thức sau : 19 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ Sau khi thay vào thì các tác giả đã tính được độ nhạy cảm của lãi suất quốc gia hay nói cách khác là mức độ độc lập của chính sách tiền tệ. Còn theo chúng tôi, do là nghiên cứu nền tảng nên MI còn hạn chế trong vai trò thước đo sự độc lập tiền tệ của quốc gia. Đầu tiên, MI chọn tương quan lãi suất làm chuẩn cho tiền tệ độc lập.
Tuy chính sách tiền tệ không độc lập hay nói cách khác sự thay đổi trong cung tiền có ảnh hưởng đến lãi suất, nhưng chúng ta cần nhận rõ là lãi suất là biến phụ thuộc của rất nhiều yếu tố vĩ mô khác. Lấy ví dụ như chính phủ muốn kích đầu tư của quốc gia thì việc giảm lãi suất cũng là một trong các nhóm giải pháp. Do đó, lãi suất thay đổi không thể nói lên tiền tệ của quốc gia có mất hay giảm đi tính độc lập. Hơn nữa, lạm phát của quốc gia cũng là nguyên nhân khiến lãi suất thay đổi.
Thứ hai, xét trong mối quan hệ với hai nhân tố còn lại trong bộ ba thì chính sách tiền tệ mất độc lập khi mở cửa tài chính và phải duy trì tỷ giá cố định thì nhân tố bị ảnh hưởng đầu tiên là cung tiền và song song đó là dự trữ của quốc gia, vậy tại sao chúng ta không đặt những nhân tố đó vào khi xem xét tính độc lập của chính sách tiền tệ mà chỉ có tương quan lãi suất. Cách đo lường của 3 tác giả Hiroyuki Taguchi, Geethanhjli Nataraj và Pravakar Sahoo ( 11-2010) theo chúng tôi chưa được thuyết phục. Bởi vì, phương trình hồi quy để tính toán các hệ số và công thức tính độ nhạy cảm là một, thực chất chỉ là sự biến đổi qua lại. Như vậy, chúng ta dựa vào các dữ liệu quá khứ tìm ra các hệ số sau đó lại dùng các hệ số này tính toán cho chỉ số hiện tại.
Việc tính toán như thế này rõ ràng là khập khiễng. Ưu điểm của phương pháp này là đã đưa dự trữ ngoại hối vào khi nghiên cứu mức độc lập chính sách tiền tệ, tuy 20 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ nhiên như đã nhận xét ở trên thì cung tiền mới là biến quan trọng trong việc phản ánh chính sách tiền tệ.2 Tỷ giá cố định. Tỷ giá luôn là đề tài nghiên cứu hấp dẫn từ trước đến nay. Việc xác định tỷ giá của quốc gia là cố định hay thả nổi là vấn đề đã được nghiên cứu từ rất sớm.
Đối với các nhà nghiên cứu tỷ giá thì chính sách tỷ giá được chia làm hai loại: “de jure exchange rate regime” và “de facto exchange rate regime”. “De jure exchange rate regime” là những gì mà các nhà chính sách hướng đến nhưng trên thực tế họ đã hành động ra sao và kết quả trên thị trường ngoại hối như thế nào thì phải chú ý đến “de facto exchange rate regime”. Cũng chính vì thế mà các phương pháp định lượng thường chỉ quan tâm đến “de facto exchange rate regime”. Các phương pháp định lượng được dùng để chia nhóm các tỷ giá thành cố định, thả nổi hay khác.
Những cách phân loại phổ biến gồm có 4 cách: cách phân loại của IMF, của Ghosh, Gulde và Wolf (2002), của Levy Yeyati và Sturzenegger (2005) và cuối cùng là của Reinhart và Rogoff (2004). Nhược điểm của cách phân loại theo “de facto exchange rate regime” là các tác giả dùng các phương pháp định lượng để cuối cùng đưa đến các kết quả định tính. Nói rõ hơn là, sau khi tính toán và phân loại thì các nước được chia vào các nhóm nước “hard peg”, “peg”, “soft peg” hay thả nổi. Các nước nằm trong 1 nhóm thì không có phân biệt mức độ thả nổi hay cố định hay nói cách khác là được xem như có cùng mức độ thả nổi hay cố định.
Cách phân loại này khi được sử dụng vào các nghiên cứu sau thì biến chế độ tỷ giá trở thành biến giả trong phương trình, chỉ nhận 2 giá trị 0 hoặc 1, hoàn toàn không phản ánh chi tiết và cụ thể mức độ cố định tỷ giá. Những nghiên cứu sau này đã phần nào khắc phục được hạn chế của nó và đưa ra 1 chỉ số cụ thể hơn phản ánh mức độ cố định tỷ giá giữa các nước. Do đó kết quả sẽ khác nhau giữa các nước cùng 1 nhóm và khác nhau qua các năm. 21 KLTN: Nghiên cứu và đo lường bộ ba bất khả thi ở Việt Nam GVHD: GS.TS Trần Ngọc Thơ Để xây dựng chỉ số phản ánh sự ổn định của tỷ giá thì đơn giản hơn so với chỉ số tiền tệ độc lập.
Chúng ta chỉ cần kiểm tra sự biến động của tỷ giá theo thời gian thông qua độ lệch chuẩn. Chỉ số ERS do Joshua Aizeman, Menzie D. Chinn và Hiro Ito xây dựng cũng với nguyên tắc trên. ERS được tính như sau: Giá trị của ERS cũng từ 0 đến 1.
ERS càng lớn thì tỷ giá giữa đồng nội tệ so với đồng tiền của quốc gia làm chuẩn càng ổn định. Chỉ số ERS cũng đơn giản trong tính toán nhưng đồng thời nó lại phản ánh chính xác sự ổn định hay không của tỷ giá. Mô hình Frankel-Wei Chúng tôi sẽ giới thiệu 1 phương pháp khác cũng nhằm ước lượng mức độ cố định của tỷ giá thông qua phương pháp hồi quy. Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là sử dụng phương trình hồi quy tỷ giá của đồng nội tệ và 1 đồng tiền độc lập với 1rổ tiền tệ.
Phương pháp này được nhắc đến đầu tiên trong bài viết của Haldane và Hall (1994) sau đó, nó được phổ biến hơn nhờ Frankel và Wei nên đôi khi nó được gọi là mô hình Frankel-Wei. Sau Frankel là một số bài viết khác với các mô hình khác nhưng nói chung là cùng ý tưởng. Các tác giả cũng sử dụng phương trình hồi quy tỷ giá của đồng nội tệ và 1 đồng tiền độc lập với một rổ tiền tệ nhưng có thể khác nhau ở cách chọn rổ tiền tệ. Chúng ta sẽ phân tích mô hình này trong bài viết gần đây của Ila Patnaik, Ajay Shah, Anmol Sethy và Achim Zeileis (8-2010).