Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Block nhĩ thất cao độ 1. Giải phẫu nút nhĩ thất Nút nhĩ thất được Sunao Tawara mô tả nằm ngang dưới nội tâm mạc trong nhĩ phải giữa xoang vành và lá giữa của van 3 lá. Hình trái xoan, nút dài 6mm, cao 3mm, rộng 2mm.
Nút nhĩ thất làm nhiệm vụ dẫn truyền và chỉ có ít tế bào tự động, 90% được cung cấp máu bởi động mạch vành phải, 10% còn lại do động mạch mũ [61]. Hệ thống bó His: thân chung bó His dài từ 10-20mm, đi trong vách liên thất ngay dưới mặt phải của vách liên thất dưới mặt phải của vách và khi đi hết phần màng chia thành hai nhánh phải và trái. Bó His và nút nhĩ thất nối tiếp nhau không có ranh giới rõ ràng nên gọi chung là bộ nối nhĩ thất [4], [46]. Định nghĩa Block nhĩ thất cao độ là tình trạng block dẫn truyền nhĩ thất bao gồm block nhĩ thất độ 2 mobizt týp 2 và block nhĩ thất độ 3 [61].
Nguyên nhân - Xơ sợi tự phát tiến triển hệ dẫn truyền. - Bệnh mạch vành: nhồi máu cơ tim cấp, thiếu máu cơ tim mạn. - Bệnh tim bẩm sinh: block nhĩ thất hoàn toàn bẩm sinh, thông liên nhĩ, chuyển vị mạch máu lớn. - Bệnh van động mạch chủ và 2 lá.
- Nhiễm trùng: bệnh Lyme, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. - Bệnh thấp khớp: sốt thấp khớp cấp, viêm khớp dạng thấp. - Bệnh cơ tim: rượu, amyloidosis, hemochromatosis. - Thuốc: các thuốc chống loạn nhịp tim nhóm 1A: Quinidine, Procainamide, Dysopyramide; các thuốc nhóm 1C: Flecainide, Propafenone; 4 các thuốc nhóm 3: Sotalol, Amiodarone.
Các glycosides trợ tim, các thuốc chẹn giao cảm, chẹn kênh Canxi: thuốc nhóm Non-DHP (Verapamil, Diltiazem). - Rối loạn điện giải: tăng kali máu [9], [65]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân block nhĩ thất cao độ 1. Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân block nhĩ thất cao độ Các triệu chứng lâm sàng của block nhĩ thất cao độ thường không đặc hiệu chỉ có tính chất gợi ý.
- Triệu chứng toàn thân: thường không có biểu hiện gì đặc biệt. - Triệu chứng cơ năng + Mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, ngất. + Hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, đau tức ngực. - Triệu chứng thực thể Khám tim mạch: + Nhịp tim thường là chậm và đều, một số trường hợp nhịp không đều do có ngoại tâm thu.
+ Tiếng tim bình thường. + Đôi khi có thể có biểu hiện của tắc mạch chi, não… do hậu quả của rung nhĩ gây ra. Các cơ quan khác thường không có gì đặc biệt [6]. Đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân block nhĩ thất cao độ 1.
Điện tâm đồ - Block nhĩ thất độ độ cao: xung động từ nhĩ đến thất có một sự khó khăn gia tăng do suy yếu đường dẫn truyền. Trong block này có một vài sóng P không theo sau phức hợp QRS [65]. - Block nhĩ thất độ 2 mobizt týp 2: trong từng khoảng nhất định bộ nối không dẫn xung động. Đặc điểm là có những đoạn PR bình thường hoặc kéo 5 dài nhẹ nhưng không thay đổi với một hoặc nhiều sóng P không dẫn truyền mà không dự đoán trước được.
Những đoạn PR trước và sau nhát bị block không có sự khác biệt và loạn nhịp xoang không làm thay đổi đoạn PR có ý nghĩa [6], [46]. Block nhĩ thất độ 2 mobizt týp 2 Nguồn: Brian Olshansky, 2016 [59]. - Block nhĩ thất 2:1: có hai sóng P liên tiếp không dẫn trên nền dẫn truyền nhĩ thất bình thường. Thường xuất hiện từng cơn và có thể dẫn đến vô tâm thu kéo dài.
Đây là rối loạn dẫn truyền nhĩ thất nặng, có thể tiến triển thành block nhĩ thất hoàn toàn với QRS rộng và nhịp thoát thất chậm <40 lần/ phút. Các bệnh nhân rung nhĩ mà xuất hiện các khoảng vô tâm thu >5 giây cần nghĩ do block nhĩ thất độ cao [5]. Block nhĩ thất 2:1 Nguồn: Brian Olshansky, 2016 [59]. - Block nhĩ thất độ 3: trong đó nhĩ và thất phân ly hoàn toàn.
Những sóng P và phức hợp QRS không có một sự liên hệ với nhau, các đoạn PR thay đổi [6]. Block nhĩ thất độ 3 Nguồn: Brian Olshansky, 2016 [59]. Holter điện tim 24 giờ Một số trường hợp nghi ngờ rối loạn dẫn truyền nhĩ thất gây ra ngất nhưng không thấy trên điện tâm đồ thông thường cần ghi điện tâm đồ 24 giờ [6]. Phương pháp thăm dò điện sinh lí Trong hầu hết trường hợp, block nhĩ thất cao độ quyết định điều trị chính là tạo nhịp tim không cần thăm dò điện sinh lí, tuy nhiên một số trường hợp cần làm điện tâm đồ bó His để xác định vị trí nơi xảy ra block là tại nút hay dưới nút.
Thường thăm dò trong trường hợp: Chỉ định loại I - Trường hợp có triệu chứng lâm sàng nghi do block xảy ra ở vùng His Purkinje mà chưa được khẳng định bằng các thăm dò trước đó. - Trường hợp block nhĩ thất độ 2 hoặc 3 đã được đặt máy tạo nhịp nhưng vẫn còn triệu chứng lâm sàng nghi ngờ do rối loạn nhịp tim khác gây ra [5],[11]. Các xét nghiệm khác - Các xét nghiệm huyết học: xác định tình trạng thiếu máu. - Các xét nghiệm sinh hóa máu: rối loạn mỡ máu, chức năng gan, thận, troponin I hoặc T loại trừ nhồi máu cơ tim.
Định lượng digoxin và các thuốc khác trong máu khi nghi ngờ có yếu tố thúc đẩy nhịp chậm là của các thuốc này. - Siêu âm tim Doppler màu: xác định tổn thương chức năng của tim và van tim. Các vùng giảm động, loạn động và vô động hậu quả của bệnh mạch vành mạn tính, nhồi máu cơ tim và các nguyên nhân khác, phát hiện huyết khối trong tim do rung nhĩ hoặc suy tim nặng [6]. Điều trị block nhĩ thất cao độ 1.
Điều trị block nhĩ thất cao độ trong tình trạng cấp cứu 1. Điều trị nguyên nhân - Tất cả bệnh nhân block nhĩ thất do các nguyên nhân như bệnh Lyme hoặc ngộ độc thuốc, cần phải điều trị ổn định nội khoa, chăm sóc tích cực, đặt máy tạo nhịp tạm thời cấp cứu khi cần thiết trước khi quyết định đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn (IB) [65]. - Các nguyên nhân phổ biến có thể điều trị theo AHA/ACC 2018: nhồi máu cơ tim cấp, suy giáp nặng, sử dụng thuốc như ức chế beta, nhóm thuốc chống loạn nhịp nhóm I, III [65]. Các thuốc làm tăng nhịp tim Theo Hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Trường môn Tim Mạch Hoa Kỳ (ACC) năm 2018: những bênh nhân block nhĩ thất độ 2 hoặc độ 3, có huyết động ổn định, atropin có thể cải thiện triệu chứng, dẫn truyền nhĩ thất, tăng tần số thất (IIA-C) [65].
Tạo nhịp tạm thời - Trong những trường hợp nhịp chậm gây rối loạn huyết động như ngưng hoặc ngừng xoang kéo dài gây triệu chứng, rối loạn nhịp thất đe dọa tính mạng do nhịp chậm, hoặc nhịp chậm có triệu chứng do nguyên nhân có thể phục hồi thì đặt máy tạo nhịp tạm thời có thể giúp tránh đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn [65]. - Chỉ định đặt máy tạo nhịp tạm thời: nếu nhịp chậm có triệu chứng nặng có nguy cơ tử vong như: cơn ngất xảy ra nhiều lần, cơn ngất kèm rối loạn ý thức nặng, kéo dài, suy tim ứ huyết, sốc tim không đáp ứng với thuốc. Đặt máy tạo nhịp tạm thời thường được chỉ định trong những trường hợp cấp cứu và nguyên nhân có thể giải quyết được, hoặc trong trường hợp khẩn cấp có rối loạn huyết động đang chờ đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn [16]. 9 - Đối với bệnh nhân block nhĩ thất độ 2 hoặc 3 với triệu chứng liên quan đến nhịp chậm hoặc huyết động không ổn định thì đặt máy tạo nhịp tạm thời được cho làm tăng nhịp tim và cải thiện triệu chứng, giải quyết tạm thời ổn định nội khoa (IIA-B) [65].
Điều trị block nhĩ thất cao độ bằng đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn 1. Chỉ định đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn Theo khuyến cáo ESC 2013 [52] - Nhóm I: + Block nhĩ thất độ 2 cao độ hoặc độ 3 tại bất kì vị trí giải phẫu nào, có kèm theo một trong những điều kiện sau: + Nhịp tim chậm có triệu chứng do block nhĩ thất. + Các loại loạn nhịp và bệnh lí khác cần phải điều trị thuốc mà các thuốc đó làm nhịp tim chậm có triệu chứng. + Có bằng chứng vô tâm thu kéo dài trên 3 giây hoặc bất kì nhịp thoát nào <40 lần/ phút ở bệnh nhân không triệu chứng lúc thức.
+ Sau cắt đốt bộ nối nhĩ thất. + Block nhĩ thất sau phẫu thuật mà không hồi phục. - Block nhĩ thất độ 2 bất kể týp hay vị trí nào của block kèm theo nhịp tim chậm có triệu chứng. - Block nhĩ thất độ 2 týp 2 có QRS rộng.
- Block nhĩ thất sau nhồi máu cơ tim: + Block nhĩ thất độ 2 ở hệ thống His-Purkinje với block nhánh hai bên hoặc block nhĩ thất độ 3 ở tại và dưới His-Purkinje. + Block nhĩ thất dưới nút cao độ thoáng qua (độ 2-3) và kèm theo block nhánh. Tổng quan về máy tạo nhịp vĩnh viễn Lịch sử về máy tạo nhịp Máy tạo nhịp (MTN) được đặt vào cơ thể đầu tiên tháng 10 năm 1958 ở Stockholm, Thụy Điển. Năm 1959, Elmovist và Ake Sening đã tạo ra một máy tạo nhịp dùng pin, đặt hoàn toàn vào dưới da.
Năm 1962, tại Mỹ, máy tạo nhịp đã được đặt theo dạng nhận cảm ở nhĩ và khởi kích ở thất [13]. Chức năng máy tạo nhịp vĩnh viễn Phần lớn các máy tạo nhịp vĩnh viễn có bốn chức năng chính: - Kích thích sự khử cực của cơ tim. - Nhận cảm hoạt động nội tại của tim. - Đáp ứng với sự tăng nhu cầu của cơ thể bằng cách thay đổi tần số.
- Hỗ trợ chẩn đoán nhờ vào dữ liệu lưu trữ trên máy [29]. Mã hiệu máy tạo nhịp vĩnh viễn Mã hiệu của máy tạo nhịp được sử dụng rộng rãi hiện nay là mã hiệu NASPE/BPEG [29] Bảng 1.