Nghiên cứu biến đổi nồng độ troponin T siêu nhạy và lưu lượng tim ở trẻ sau sửa tứ chứng Fallot

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu biến đổi nồng độ và giá trị tiên lượng lưu lượng tim thấp kết quả sớm sau sửa, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Bệnh viện Tim Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

163
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot

1.2. Ảnh hưởng của THNCT ở trẻ em trong phẫu thuật tim

1.3. Các yếu tố nguy cơ tổn thương cơ tim chu phẫu

1.4. Biến chứng thường gặp sau sửa tứ chứng Fallot

1.5. Troponin T siêu nhạy phát hiện tổn thương cơ tim

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhi vào nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Tiêu chuẩn đưa ra khỏi nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Phương pháp tính cỡ mẫu trong nghiên cứu

2.8. Các chỉ số và biến số nghiên cứu

2.9. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.10. Phương pháp thu thập số liệu

2.11. Các tiêu chuẩn chính áp dụng trong nghiên cứu

2.12. Phương pháp sử lý số liệu thống kê

2.13. Làm sạch và mã hóa số liệu

2.14. Phương pháp xử lý số liệu thống kê

2.15. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm bệnh nhi

3.2. Đặc điểm chung

3.3. Triệu chứng trước mổ

3.4. Liên quan troponin T siêu nhạy và yếu tố nguy cơ

3.5. Biến đổi nồng độ hs-TnT trước và sau phẫu thuật

3.6. Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ và hs-TnT

3.7. Vai trò tiên lượng của troponin T siêu nhạy

3.8. Hội chứng lưu lượng tim thấp sau sửa toàn bộ TOF

3.9. Vai trò của hs-TnT trong tiên lượng hội chứng lưu lượng tim thấp

3.10. Vai trò của hs-TnT trong tiên lượng điểm số VIS

3.11. Vai trò của hs-TnT trong tiên lượng rối loạn nhịp tim

3.12. Vai trò của hs-TnT trong tiên lượng kết quả sớm sau phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm bệnh nhi trước phẫu thuật

4.2. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.3. Triệu chứng lâm sàng trước phẫu thuật

4.4. Sự biến đổi nồng độ troponin T siêu nhạy

4.5. Nồng độ hs-TnT trước phẫu thuật

4.6. Nồng độ hs-TnT sau phẫu thuật

4.7. Biến đổi nồng độ một số chỉ số sinh hóa khác

4.8. Troponin T siêu nhạy và các yếu tố nguy cơ

4.9. Liên quan giữa hs-TnT với yếu tố nguy cơ trước phẫu thuật

4.10. Liên quan giữa hs-TnT với yếu tố nguy cơ trong phẫu thuật

4.11. Vai trò tiên lượng của troponin T siêu nhạy

4.12. Vai trò hs-TnT trong tiên lượng lưu lượng tim thấp

4.13. Liên quan giữa hs-TnT và điểm số VIS

4.14. Liên quan giữa nồng độ hs-TnT và rối loạn nhịp tim

4.15. Vai trò hs-TnT dự báo kết quả sớm sau phẫu thuật

Danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến luận án

Tài liệu tham khảo

Bệnh án nghiên cứu

Danh sách bệnh nhân nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về tứ chứng Fallot

Tứ chứng Fallot là một bệnh tim bẩm sinh phức tạp, chiếm tỷ lệ 7-10% trong các bệnh tim bẩm sinh. Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot (TOF) thường được thực hiện với sự hỗ trợ của máy tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT). Mặc dù có nhiều tiến bộ trong phẫu thuật, biến chứng tim mạch vẫn là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là hội chứng lưu lượng tim thấp. Các yếu tố nguy cơ như tuổi, cân nặng và mức độ nặng của bệnh có thể ảnh hưởng đến tổn thương cơ tim trong quá trình phẫu thuật. Việc phát hiện tổn thương cơ tim sớm thông qua các dấu ấn sinh học như troponin T siêu nhạy là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị.

1.1 Đặc điểm giải phẫu và sinh lý bệnh

Tứ chứng Fallot đặc trưng bởi bốn tổn thương giải phẫu: thông liên thất, hẹp đường ra thất phải, dày thất phải và động mạch chủ cưỡi ngựa. Những đặc điểm này dẫn đến quá tải áp lực thất phải và luồng thông phải-trái, gây ra triệu chứng tím và các biến chứng nghiêm trọng nếu không được can thiệp kịp thời. Việc hiểu rõ về sinh lý bệnh là cần thiết để áp dụng các phương pháp gây mê và phẫu thuật hiệu quả.

II. Vai trò của troponin T siêu nhạy trong phẫu thuật tim

Troponin T siêu nhạy (hs-TnT) đã trở thành một dấu ấn sinh học quan trọng trong việc phát hiện tổn thương cơ tim. Nghiên cứu cho thấy nồng độ hs-TnT có thể phản ánh mức độ tổn thương cơ tim trong và sau phẫu thuật. Việc theo dõi nồng độ hs-TnT giúp đánh giá tình trạng tim mạch của bệnh nhi, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hs-TnT có thể dự đoán nguy cơ tử vong và các biến chứng tim mạch sau phẫu thuật.

2.1 Biến đổi nồng độ troponin T siêu nhạy

Nồng độ hs-TnT thường tăng cao sau phẫu thuật, phản ánh tổn thương cơ tim do các yếu tố như thiếu máu cục bộ và phản ứng viêm. Việc theo dõi nồng độ này không chỉ giúp phát hiện tổn thương mà còn có thể dự đoán các biến chứng như hội chứng lưu lượng tim thấp và rối loạn nhịp tim. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc sử dụng hs-TnT trong quản lý bệnh nhân sau phẫu thuật.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ hs-TnT có mối liên quan chặt chẽ với các yếu tố nguy cơ trước và trong phẫu thuật. Việc đánh giá nồng độ hs-TnT có thể giúp tiên lượng kết quả sớm sau phẫu thuật, từ đó cải thiện quy trình điều trị và hồi sức cho bệnh nhi. Các kết quả này có thể được áp dụng trong thực tiễn lâm sàng để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh.

3.1 Đánh giá vai trò tiên lượng của troponin T siêu nhạy

Hs-TnT không chỉ là một chỉ số phản ánh tổn thương cơ tim mà còn có giá trị tiên lượng trong việc dự đoán các biến chứng tim mạch. Nghiên cứu cho thấy nồng độ hs-TnT cao có thể dự đoán hội chứng lưu lượng tim thấp và nhu cầu sử dụng thuốc vận mạch. Điều này cho thấy rằng việc theo dõi hs-TnT có thể giúp các bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời và hiệu quả hơn.

25/01/2025
Luận án nghiên cứu biến đổi nồng độ và giá trị tiên lượng lưu lượng tim thấp kết quả sớm sau sửa toàn bộ tứ chứng fallot ở bệnh nhi của troponin t siêu nhạy

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. PHẪU THUẬT SỬA TOÀN BỘ TỨ CHỨNG FALLOT 1. Nhắc lại một số đặc điểm về giải phẫu, sinh lý bệnh tứ chứng Fallot 1. Đặc điểm giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật Năm 1671 Nils Stensen mô tả đầu tiên với chứng xanh tím, bệnh được mô tả đầy đủ vào năm 1888 bởi Etienne L.

Là bệnh hình thành do phát triển bất thường vùng ngăn thân nón động mạch chủ - phổi (hình 1.1 Quá trình hình thành vách ngăn thân nón ĐM chủ - phổi [27] Quá trình tiếp nối và xoay vách ngăn thân nón bị gián đoạn hoặc quá đà sẽ hình thành các bất thường ở vùng thân nón trong đó có bệnh tứ chứng Fallot [27]. Trong quá trình ngăn thân - nón động mạch không đồng đều do sự dịch chuyển ra phía trước, lên trên của vách nón [27]. Hậu quả làm cho động mạch chủ "cưỡi ngựa" lên vách liên thất ngay trên lỗ thông liên thất và nhận máu từ 2 thất mỗi khi tim co bóp. Mặc dù mức độ cưỡi ngựa của ĐMC khác nhau nhưng luôn luôn có sự liên tục giữa lá trước van 2 lá với thành sau của động mạch chủ.

Sự di chuyển lệch ra trước và lên trên của vách động mạch chủ - phổi làm ĐMC càng di chuyển lệch phải và càng làm hẹp đường ra thất phải và ĐMP. Sự dịch chuyển này của vách nón làm cho phần vách nón 5 không tiếp nối được với phần còn lại của vách liên thất tạo bởi vách liên thất nguyên thuỷ và các gờ nội tâm mạc làm vách liên thất đóng không kín gây ra lỗ thông liên thất [28],[29],[30]. Tứ chứng Fallot đặc trưng bởi 4 tổn thương giải phẫu: thông liên thất, hẹp đường ra thất phải, dày thất phải và động mạch chủ cưỡi ngựa [1],[2],[3],[31].2 Tổn thương giải phẫu trong tứ chứng Fallot [32] 1. Đặc điểm sinh lý bệnh ứng dụng trong gây mê hồi sức Trong TOF, hai đặc hai đặc điểm sinh lý bệnh quan trọng của bệnh này là quá tải áp lực thất phải và luồng thông phải - trái [30],[33],[34].

+ Luồng thông phải - trái: tùy mức độ hẹp ĐMP, hẹp ĐMP thường nhẹ ở trẻ sơ sinh và tăng dần theo sự phát triển của trẻ [35]. Khi hẹp ĐMP, lượng máu từ TP lên phổi bị hạn chế, một phần lớn máu qua lỗ thông liên thất trộn với máu TT để lên ĐMC làm cho bệnh nhi có triệu chứng tím. Tím nặng hơn khi gắng sức, trẻ bị kích thích làm nhịp tim nhanh, vùng phễu bị co thắt, gây thiếu ôxy mô, làm toan máu, giãn mạch ngoại vi càng làm giảm máu đến phổi tạo ra vòng xoắn bệnh lý. Lưu lượng máu lên phổi được bù trừ nếu tuần hoàn bàng hệ phát triển hoặc được phẫu thuật tạm thời cầu nối chủ - phổi.

6 + Quá tải về áp lực: trong TOF do có lỗ thông liên thất rộng và ĐMC nằm cưỡi ngựa lên vách liên thất nên cả 2 thất đều bơm lên 2 đại động mạch, vì vậy áp lực thất phải nhanh chóng ngang bằng áp lực thất trái. Nếu không được can thiệp sớm, để bệnh nhi phát triển tự nhiên tới tuổi trưởng thành, lúc đó sẽ gây xơ hóa cơ tim đặc biệt là cơ thất phải. Do đó có thể xuất hiện suy thất phải và thất trái không chịu quá tải áp lực tuy nhiên có thể gặp tình trạng suy thất trái do tăng tiền gánh sau phẫu thuật sửa toàn bộ [1],[28],[36]. + Áp dụng trong gây mê bệnh nhi tứ chứng Fallot: ở trẻ bình thường, khi thở nhanh làm giảm áp lực trong lồng ngực gây tăng hồi lưu tĩnh mạch hệ thống và làm tăng lưu lượng máu phổi.

Trong bệnh TOF do hẹp phổi cố định, khi thở nhanh làm tăng hồi lưu tĩnh mạch hệ thống, tuy nhiên thay vì máu đi vào ĐMP thì nó lại bị bơm vào cả ĐMC nên càng làm nặng thêm tình trạng thiếu ôxy máu. Nhiễm toan do thiếu ôxy máu có thể gây co thắt vùng phễu tạo vòng xoắn bệnh lý làm nặng hơn tình trạng thiếu ôxy. Vào giai đoạn khởi mê, việc đặt nội khí quản gây nên các kích thích rất mạnh, trẻ thường có đáp ứng giao cảm, biểu hiện mạch nhanh, huyết áp cao. Vì vậy cần tiền mê tốt cho trẻ, tránh làm nặng các tình trạng đảo shunt, đảm bảo không được thiếu dịch, cung cấp ôxy đầy đủ khi khởi mê và tránh dùng thuốc có tác dụng dãn mạch nhiều, tránh toan máu [37].

Nếu dung tích hồng cầu (Hct) quá cao > 65% kèm theo có dấu hiệu lâm sàng của tăng đông cần phải pha loãng máu bằng cách rút bớt máu tĩnh mạch và truyền dịch thay thế. Phương pháp phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot 1. Chỉ định phẫu thuật Hai vấn đề được đặt ra là phẫu thuật ở tuổi nào và phẫu thuật 1 thì (sửa toàn bộ ngay) hay phẫu thuật 2 thì (làm cầu nối chủ phổi sau đó sẽ sửa toàn bộ). Điều này phụ thuộc vào ê kíp phẫu thuật của các trung tâm phẫu thuật tim mạch nhi khoa.

Chống chỉ định sửa toàn bộ bao gồm: nhánh xuống trước 7 của động mạch vành xuất phát từ động mạch vành phải, thiểu sản nặng thân ĐMP, hẹp trên 50% các nhánh ĐMP, không lỗ van ĐMP [28]. Phương pháp sửa toàn bộ TOF không mở thất phải Phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot được Lillehei thực hiện lần đầu tiên năm 1954 bao gồm: vá lỗ thông liên thất và sửa chữa hẹp đường ra thất phải. Hiện nay, phương pháp phẫu thuật sửa toàn bộ TOF không mở thất phải của tác giả Hudspeth có nhiều ưu điểm và được áp dụng tại bệnh viện Tim Hà Nội [38]. Khác hoàn toàn với phương pháp mở qua thất phải, đó lá việc cắt bỏ các bè cơ gây hẹp đường ra thất phải không phải qua đường mở phễu thất phải mà qua van 3 lá [4],[38].

Ưu điểm chính của phương pháp này là bảo tồn tối đa sự toàn vẹn của thất phải [38]. Kết quả sửa chữa tối ưu khi độ chênh áp lực TP - ĐMP sau mổ đạt dưới 30 mmHg và tỉ lệ áp lực TP/TT < 0,5. Sửa toàn bộ tứ chứng Fallot được thực hiện với sự hỗ trợ của máy THNCT. Ảnh hưởng của THNCT ở trẻ em trong phẫu thuật tim 1.

Máy tuần hoàn ngoài cơ thể Máy THNCT tác dụng thay chức năng tim và phổi trong phẫu thuật tim.3 Sơ đồ hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể [39] 8 Trải qua quá trình phát triển, các bộ phận của máy THNCT ngày càng được cải tiến: bộ phận trao đổi ôxy, bộ phận trao đổi nhiệt, hệ thống dây dẫn máu, hệ thống theo dõi, đặc biệt việc thu nhỏ kích cỡ một số bộ phận của máy giúp an toàn hơn trên trẻ nhỏ [39],[40]. Khi chạy máy THNCT máu từ các tĩnh mạch lớn theo dây dẫn đổ về bình chứa của máy THNCT, tại đây máu được trao đổi ôxy và thải CO2 sau đó máu giầu ôxy được bơm trở lại nuôi cơ thể [39],[41]. Tuy nhiên THNCT cũng gây ra những tác động bất lợi đối với cơ thể và sự phản ứng quá mức của cơ thể với các tác nhân do THNCT gây ra, đặc biệt khi chạy máy THNCT trên trẻ em [39],[42].4 Sơ đồ ảnh hưởng của phẫu thuật và THNCT đối với trẻ em [43] Có sự khác biệt trong chạy máy THNCT ở trẻ em và người lớn như về dung lượng của vòng tuần hoàn nhân tạo, pha loãng máu, lưu lượng bơm [39]. 9 Nhiều cơ quan ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh còn chưa trưởng thành, thể tích máu ở trẻ ít, khi máu phải tiếp xúc với diện rộng của bề mặt nhân tạo gây tăng kịch phát chuỗi phản ứng viêm, tổn thương thiếu máu, tái tưới máu và hậu quả ảnh hưởng tới các cơ quan trong cơ thể trẻ [42],[44].

Ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn + Thay đổi kháng lực ngoại biên: khi bắt đầu chạy máy THNCT xảy ra hiện tượng tụt huyết áp động mạch do giảm kháng lực mạch ngoại biên, giảm độ nhớt máu thứ phát do pha loãng máu bởi dung dịch mồi của máy THNCT, giảm kháng lực mao động mạch do pha loãng catecholamin trong hệ tuần hoàn và giảm ôxy máu tạm thời. + Lưu lượng tim trong THNCT: phụ thuộc vào vận tốc bơm hay vận tốc dòng chảy của máu. Vận tốc bơm hoàn toàn được kiểm soát bởi nhân viên chạy máy THNCT và có thể thay đổi tùy thuộc nhu cầu của mỗi bệnh nhân. Vận tốc bơm được tính theo ml/kg hoặc l/m2/phút.

Bình thường 70 - 80 l/m2/phút tuy nhiên ở trẻ em có thể tới 200 l/m2/phút. + Huyết áp động mạch: ở vận tốc bơm khác nhau, huyết áp động mạch sẽ thay đổi tùy theo bệnh nhân, nhưng quan trọng là sự liên quan giữa huyết áp động mạch thấp và việc tưới máu mô không đầy đủ, trong đó não và thận là hai cơ quan có nguy cơ lớn nhất. Đối với 2 cơ quan này, nếu huyết áp động mạch trung bình dưới 30 mmHg thì có thể không bị ảnh hưởng trong thời gian ngắn, vì vậy cần duy trì huyết áp động mạch trung bình từ 40 - 60 mmHg ở trẻ em [45]. Huyết áp động mạch cao trong THNCT lại làm tim hoạt động trở lại nhanh hơn gây thiếu máu cơ tim thứ phát và làm tăng nguy cơ xuất huyết não, ngoài ra còn có thể làm bung chỗ nối ở các ống dẫn máu, vỡ hồng cầu.

+ Thay đổi ở hệ vi tuần hoàn và tưới máu mô: THNCT tác động lên hệ thống vi tuần hoàn gây co thắt các cơ vòng mao mạch, có thể có sự tạo 10 thành thông nối động mạch, tĩnh mạch. Tăng thể tích dịch mô kẽ, làm giảm sự dẫn của mạch bạch huyết hoặc hiện tượng đóng cặn trong mao mạch. Tổn thương nội mạc mạch máu gây biến đổi chức năng hệ vi tuần hoàn, từ đó làm tăng sức cản mạch phổi, mạch não và mạch hệ thống điều này rất hay gặp sau chạy máy THNCT có hạ thân nhiệt. Tổn thương nội mạc mạch máu ảnh hưởng xấu đến tiết các yếu tố giãn mạch quan trọng như nitric oxide và prostacyclin, tăng tiết các chất co mạch như thromboxan A2 và endothelin, chất có tác dụng tăng cường co bóp cơ tim.

Trên lâm sàng có các phương tiện đặc biệt để đo chức năng các cơ quan trong quá trình THNCT như BIS, huyết áp động mạch xâm lấn để theo dõi huyết áp động mạch trung bình nhằm đảm bảo áp lực tưới máu tổ chức [46]. Ảnh hưởng đến chức năng hô hấp Tổn thương tại phổi trong chạy THNCT có biểu hiện đa dạng do phổi có đặc điểm giải phẫu và sinh lý đặc biệt [47]: + Thứ nhất: phổi có cấu trúc giống như hệ thống lưới lọc vì vậy mọi yếu tố gây viêm, tế bào và thể dịch, sau khi được hoạt hóa đều đi qua phổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu biến đổi nồng độ troponin T siêu nhạy và lưu lượng tim ở trẻ sau sửa tứ chứng Fallot" tập trung vào việc đánh giá sự thay đổi nồng độ troponin T siêu nhạy và lưu lượng tim ở trẻ em sau khi phẫu thuật sửa tứ chứng Fallot. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng sức khỏe tim mạch của trẻ em sau phẫu thuật mà còn giúp các bác sĩ có thêm thông tin để tiên lượng và quản lý tình trạng bệnh của bệnh nhân. Đặc biệt, việc theo dõi nồng độ troponin T có thể là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tổn thương cơ tim và cải thiện kết quả điều trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y học và tim mạch, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên cứu nồng độ galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim, nơi cung cấp thông tin về các chỉ số sinh học liên quan đến bệnh tim, và Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa huyết áp và chức năng tim. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tim mạch trong y học hiện đại.