Đặt vấn đề Những năm gần đây lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, do vậy nhu cầu về sử dụng các sản phẩm từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng. Ngành công nghệ chế biến lâm sản đứng trước thực trạng bị thiếu nguyên liệu trầm trọng. Cây tre đã gắn bó với đời sống của người dân và đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt Nam. Tre là biểu tượng cho phẩm chất đặc sắc nhất của con người Việt Nam ta: Đoàn kết, thủy chung, thanh cao, bất khuất.
Là đức tính kiên cường ẩn tàng trong khả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai họa thiên nhiên cũng như mọi biến thiên bão táp và bi kịch lịch sử, cả do đến từ mọi phía lẫn do nội sinh, để trường tồn và phát triển. Tre có nhiều công dụng như làm vật liệu xây dựng, đồ nội thất, công cụ lao động, hàng thủ công mỹ nghệ. Hiện nay, trong bối cảnh diện tích rừng tự nhiên nước ta giảm nhanh chóng, không đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng gỗ của xã hội. Với thế mạnh vê trữ lượng lớn và chu kỳ khai thác ngắn, tre vẫn là nguồn vật liệu phổ biến phục vụ trong xây dựng nhà cửa tại các vùng nông thôn và các khu du lịch sinh thái.
Nguyên liệu tre để xây dựng nhà cửa, được sử dụng ở hai dạng chính: Dạng nguyên ống làm các bộ phận chịu lực như các loại xà, cột; Dạng chẻ thanh để làm giàn mái, vách ngăn che, sàn nhà và các chi tiết nhỏ khác. Nhược điểm lớn của tre là rất dễ bị mối, mọt, nấm mục, mốc phá hoại. Do đó, nếu tre đưa vào sử dụng không qua bảo quản thì tuổi thọ của các ngôi nhà tre chỉ sau 4-5 năm đã bị sinh vật phá hủy hoàn toàn. Ở nước ta, theo kinh nghiệm cổ truyền, có nhiều phương pháp xử lý bảo quản nhằm kéo dài thời gian sử dụng tre như: chọn mùa chặt hạ (chặt hạ tre vào mùa đông), ngâm nước, hun khói, hong phơi tre, kê xếp ở những nơi thoáng gió.
được áp dụng phổ biến. Nhưng các phương pháp này cũng bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả bảo quản, thời gian h 2 xử lý kéo dài gây khó khăn trong việc chủ động nguồn nguyên liệu; gỗ ngâm nước lâu ngày sẽ bị mất màu, gây ô nhiễm môi trường nước và không khí khu vực xử lý. Để khắc phục những nhược điểm của các biện pháp bảo quản truyền thống các loại thuốc bảo quản lâm sản có hiệu lực tốt phòng chống sinh vật gây hại lâm sản đã ngày càng phát triển về chủng loại và số lượng theo hướng an toàn với môi trường. Tại Việt Nam, từ năm 1998 đến nay, có 13 loại thuốc bảo quản lâm sản do Viện Khoa học Việt Nam nghiên cứu thành công đã chính thức đăng ký trong “Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam”.
Trong đó gồm các chủng loại: thuốc dùng để xử lý ngâm tẩm gỗ, thuốc phòng diệt mối gây hại lâm sản, thuốc chống cháy cho gỗ. Tre là một loại lâm sản ngoài gỗ mà ông cha ta đã sử dụng từ xưa đến nay. Nhất là những năm gần đây việc sử dụng những sản phẩm từ tre đã trở nên rất phổ biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong những nét văn hóa của dân tộc. Để khắc phục được những hạn chế đang còn tồn tại cũng như những khó khăn trong việc bảo quản sử dụng tre trong thực tiễn, trong phạm vi khuôn khổ của một đề tài tốt nghiệp đại học chúng tôi chọn tre là nguyên liệu để thực nghiệm và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bảo quản tre gai (Bambusa Bambos) bằng thuốc Cislin 2.5EC tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục đích, mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ thuốc cislin đến thời gian tẩm và lượng thuốc thấm vào tre từ đó làm cơ sở bảo quản cho tre, nâng cao năng suất và chất lượng tre góp phần đáp ứng mục tiêu kinh doanh. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá được ảnh hưởng của nồng độ Cislin đến thời gian tẩm và lượng thuốc tẩm vào tre. h 3 - Đánh giá được hiệu lực của thuốc Cislin đối với mối sau khi tẩm thuốc.
- Đánh giá được hiệu lực của thuốc Cislin đối với nấm mốc sau khi tẩm thuốc. - Lựa chọn được nồng độ thuốc phù hợp trong bảo quản tre.Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: - Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các phương pháp bảo quản khác. * Ý nghĩa trong thực tế sản xuất: - Kết quả nghiên cứu của đề tài được thông qua quá trình thực hiện sử dụng thuốc Cislin để bảo quản Tre nên sẽ là cơ sở khách quan nhất để biết được tác dụng của thuốc trong việc bảo quản tre khỏi nấm mốc, mối, mọt. - Làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp bảo quản thích hợp nhất bằng thuốc Cislin.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2. Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản 2. Bảo quản lâm sản Bảo quản lâm sản là biện pháp tổng hợp giữ gìn nhằm kéo dài thời gian sử dụng, chống sự xâm nhập phá hoại của mối mọt, nấm mốc, hạn chế tác động không tốt của môi trường.
Bao gồm: 1) Bảo quản kĩ thuật: là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: cách li gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao. 2) Bảo quản bằng hoá chất: là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lí trực tiếp sinh vật hại gỗ. 3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: dùng một số loài nấm, côn trùng để diệt sinh vật hại gỗ [10]. Tầm quan trọng của công tác bảo quản lâm sản Gỗ, tre, nứa là nguồn lâm sản được sử dụng phổ biến để làm nguyên liệu trong xây dựng, làm đồ nội thất và đồ gia dụng thiết yếu khác.
Từ lâu đời nhân dân ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tìm ra các biện pháp hạn chế sự tấn công này như: chặt tre, gỗ vào mùa đông để giảm lượng dinh dưỡng trong cây, ngâm tre gỗ dưới ao hồ để phá hủy một phần lượng dinh dưỡng đó, để gác bếp, hun khói… Đặc điểm nổi bật là chúng ta sống trong môi trường nhiệt đới nóng ẩm. Điều kiện này thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật nói chung song đối sinh vật gây hại cũng hoạt động mạnh quanh năm. Công nghệ bảo quản bằng các loại chế phẩm tự nhiên ra đời chính là đã kế thừa các thành tựu của việc nghiên cứu cơ bản về sinh vật học. h 5 Việc áp dụng chế phẩm bảo quản lâm sản nhằm mục tiêu: Công nghệ bảo quản gỗ nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên.
Nhằm tăng giá trị sử dụng của các sản phẩm, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật hại gỗ như mối mọt, nấm mục v.v… gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng. Bằng các biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và các công trình sử dụng lâm sản. Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX. Nó không những đã mang lại hiệu quả kinh tế to lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân [10].
Phương pháp bảo quản lâm sản 2. Phương pháp ngâm thường Đặc điểm chung: Ngâm gỗ vào chế phẩm bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp cổ điển nhất. Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản ngoài gỗ trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự dịch chuyển của các phần tử trong chế phẩm bảo quản vào trong gỗ nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động của dung dịch bảo quản vào gỗ nhờ áp dụng lực mao quản. Hiện tượng thẩm thấu thường xảy ra ở gỗ hoặc tre có độ ẩm cao trên điểm bão hòa và ngâm trong dung dịch.
Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc từ ngoài vào. Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở ra vào dung dịch thuốc. Tốc độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào độ ẩm gỗ, nồng độ dung dịch, loại gỗ [13]. Phương pháp phun, quét - Phương pháp quét Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất, như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ [13].
- Phương pháp phun Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít. Tác dụng bảo quản: mang tính tạm thời, báo quản lớp mặt. Nó cũng có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung những vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các chỗ khe ngóc ngách quét [13]. Phương pháp hun khói, ngâm.
- Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm. Phương pháp hun khói tre, gỗ, song mây lên trên bếp giúp cho tre nứa, song mây khô nhanh, chống được mốc. Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt tre. - Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế mốc.
Phương pháp này sẽ làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột có trong tre, gỗ giảm đi [13].