MỞ ĐẦU Đảng sâm (Codonopis javanica (Blume) Hook. f) là một vị thuốc quý, được sử dụng nhiều trong y học cổ truyền và dân gian để chữa các chứng bệnh tỳ vị kém, phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, khát nước, ốm lâu cơ thể suy nhược, thiếu máu, vàng da, viêm thượng thận [3]. Việc khai thác và sử dụng Đảng sâm như một sản phẩm có giá trị cao, giàu tiềm năng và chất lượng được kiểm soát là điều cần thiết để người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận với các sản phẩm từ dược liệu có chất lượng cao. Đồng thời góp phần nâng cao giá trị thương phẩm của Đảng sâm Việt Nam trên thị trường quốc tế trong tương lai.
Các sản phẩm Đảng sâm đang được phân phối trên thị trường Việt Nam hiện nay phần lớn ở dạng củ tươi, củ khô và rượu thuốc. Tuy nhiên, các dạng chế phẩm này ít được khách hàng lựa chọn do sử dụng bất tiện, khó vận chuyển và bảo quản. Hiện nay, các sản phẩm trà hòa tan từ dược liệu đang được quan tâm nghiên cứu, phát triển bởi tính thuận tiện sử dụng, cách dùng đơn giản và giúp các sản phẩm từ dược liệu tiếp cận với người dùng hàng ngày một cách hiệu quả. Ngoài ra, việc nghiên cứu và phát triển dòng sản phẩm trà hòa tan từ Đảng sâm sẽ đảm bảo chất lượng của sản phẩm được kiểm soát và giúp phổ biến khả năng sử dụng của dược liệu này trong việc nâng cao sức khỏe.
Có nhiều phương pháp để bào chế trà hòa tan: phương pháp xát hạt, phương pháp đông khô, phương pháp sấy phun[47]. Trong các phương pháp nêu trên, phương pháp sấy phun đang được sử dụng phổ biến do: quy trình sản xuất đơn giản, thời gian sản xuất được rút ngắn do đó dễ dàng mở rộng quy mô sản xuất và áp dụng cho các dịch chiết kém bền nhiệt [16]. Tuy nhiên, cao khô sấy phun từ dược liệu thường có kích thước hạt nhỏ, khối lượng riêng nhỏ, lưu tính kém [23] gây khó khăn cho quá trình sản xuất và đóng gói. Để sản xuất thành công, cao khô sấy phun thường được phối hợp với các loại tá dược độn lưu tính tốt ở tỷ lệ thích hợp.
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu bào chế trà hòa tan Đảng sâm Codonopsis javanica (Blume) Hook.” được thực hiện với những nội dung cụ thể sau: - Xây dựng quy trình điều chế và tiêu chuẩn cơ sở cao Đảng sâm. - Xây dựng công thức trà hòa tan Đảng sâm. - Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở trà hòa tan Đảng sâm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
ĐẢNG SÂM VIỆT NAM - Tên khoa học: Codonopsis javanica (Blume) Hook. - Họ: hoa chuông (Campanulaceae) - Tên gọi khác: ngân đằng, cây đùi gà, mằn rày cáy (Tày), cang hô (H’Mông). Rễ Codonopsis javanica (Blume) Hook. Phân bố sinh thái và đặc điểm thực vật 1.
Phân bố sinh thái Đảng sâm (ĐS) là cây của vùng cận nhiệt đới, được ghi nhận ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Việt Nam và Nhật Bản. Ở Việt Nam, ĐS có ở 14 tỉnh miền núi, nhưng tập trung nhất ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang… Ở các tỉnh phía Nam, ĐS có ở núi Ngọc Linh và Đà Lạt [1], [3]. Đặc điểm thực vật ĐS là loại cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn. Rễ hình trụ dài, đường kính 1,5-3 cm, phân nhánh, đầu rễ phình to, có nhiều vết sẹo lồi của thân cũ.
Thân màu vàng nhạt. Lá mọc đối, ít khi mọc so le, gốc hình tim, đầu nhọn, phiến mỏng, hình trứng rộng, dài 3-8 cm, rộng 2-4 cm, mép nguyên lượn sóng hoặc hơi khía răng, mặt trên màu lục nhạt mặt dưới màu trắng xám, có lông rải rác [1]. Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, có cuống dài 2-6 cm, đài có 5 phiến hẹp, tràng hình chuông màu trắng hoặc hơi vàng, có vân tím ở họng, chia 5 thùy, nhị 5, chỉ nhị hơi dẹt, bao phấn dính gốc, bầu hình cầu có 5 ô [1]. Quả nang, hình cầu, có 5 cạnh mờ, đầu bẹt, phía trên có một núm nhỏ hình nón, đường kính 1-2 cm, có đài tồn tại, khi chín màu tím hoặc tím đỏ; hạt nhiều, màu vàng nhạt, bóng.
Toàn cây có nhựa mủ trắng [1]. Mùa hoa: tháng 10 đến tháng 11, mùa quả: tháng 12 đến tháng 2 năm sau [1]. Bộ phận dùng, thu hái và chế biến Rễ ĐS thu hái vào mùa đông, rửa sạch đất cát, cắt bỏ đầu rễ và rễ con, phân loại rễ to nhỏ để riêng, phơi nắng nhẹ hoặc sấy ở nhiệt độ thấp cho đến hơi khô, lăn cho mềm, rồi tiếp tục phơi hoặc sấy nhẹ cho đến khi khô hẳn. Khi dùng thái mỏng tẩm nước gừng, sao qua.
Dược liệu dễ bị sâu mọt cần được bảo quản ở nơi khô ráo [1], [3]. Thành phần hóa học Rễ ĐS chứa polysaccharid, chất béo, tinh dầu, glucosid scutellarin, alkaloid, acid amin và chất béo. Rễ ĐS có 17 acid amin, tuy hàm lượng không cao nhưng có đầy đủ acid amin cần thiết: aspartic, glutamic, serin, histidin, glycin, threonin, alanin, arginin [4],[5]. Ngoài ra, theo Đào Kim Long và cộng sự (2012), rễ ĐS chứa một số hoạt chất lần đầu tiên được công bố như [10]: - Các hợp chất phytosterol: β-sitosterol và daucosterol.
- Các flavonoid: hesperidin và kaemferol-3-O-β-D-sophorosid. - Hợp chất polyacetylen: lobetyol, lobetyolin. Năm 2013, Nguyễn Minh Đức và cộng sự đã phân lập và xác định được cấu trúc của một số hợp chất có trong rễ cây ĐS Việt Nam trồng ở Lâm Đồng gồm lobetyolin và một số hợp chất phytosterol [6]. Trong đó, hợp chất lobetyolin được xem là chất đánh dấu của loài Codonopsis [43].
Tác dụng trên niêm mạc dạ dày Theo công trình của Liu và cộng sự (2015) ghi nhận, polysaccharid từ dịch chiết nước rễ ĐS (50 mg/kg/ngày) có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với tổn thương niêm mạc dạ dày do rượu và tác dụng dược lý có liên quan đến quá trình tổng hợp và/hoặc giải phóng prostaglandin ở niêm mạc dạ dày chuột [27]. Song và cộng sự (2008) đã công bố lobetyolin sử dụng với liều uống 1,5 mg/kg có tác dụng làm giảm chỉ số loét, giảm tiết gastrin và tăng tiết 6–keto–prostaglandin F1α ở chuột bị loét dạ dày do ethanol gây ra. Lobetyolin đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ tổn thương niêm mạc dạ dày [48]. Tác dụng tăng hệ miễn dịch Theo nghiên cứu của Zhang và Wang (2008), polysaccharid từ dịch chiết nước ĐS có tác dụng tăng cường miễn dịch trên chuột suy giảm miễn dịch gây ra bởi cyclophosphamid.
Trong một nghiên cứu miễn dịch in vitro, polysaccharid hòa tan trong nước (50, 100 và 200 µg/ml) tăng sinh tế bào lympho theo liều [56]. Nghiên cứu của Yu-Ping Fu và cộng sự (2018) cho thấy polysaccharid phân lập từ ĐS có khả năng làm tăng hệ miễn dịch và hệ vi sinh vật đường ruột của chuột suy giảm miễn dịch bằng cyclophosphamid. Kết quả chỉ ra rằng polysaccharid thúc đẩy bài tiết IgG và các cytokin (IL-2, IL-10, IFN-γ) trong huyết thanh. Đồng thời, hệ sinh vật đường ruột bị suy yếu bằng cách tạo điều kiện sự tăng trưởng của Lactobacillus đã được phục hồi bằng polysaccharid và quá trình chuyển hóa (acid acetat) đã được tăng lên [26].
Tác dụng kháng khối u Polysaccharid từ dịch chiết ĐS (10 µg/ml) có thể ức chế hoạt động của các tế bào ung thư biểu mô dạ dày ở người và tế bào ung thư biểu mô tế bào gan [28]. Nghiên cứu của Min Chen và cộng sự (2018) chứng minh polysaccharid có tác dụng kích hoạt các đại thực bào, ức chế sự tăng sinh và di cư của tế bào ung thư bằng cách thúc đẩy sản xuất TNF-α và oxid nitric [21]. Tác dụng chống tăng đường huyết Sau khi chuột được cho uống polysaccharid từ dịch chiết nước ĐS, Fu và cộng sự nhận thấy dịch chiết polysaccharid có thể làm giảm đường huyết lúc đói và insulin trong huyết thanh, tăng cường hoạt động superoxid disutase (SOD) và giảm hàm lượng malondialdehyd (MDA) trong huyết thanh [25]. Do đó, polysaccharid từ dịch chiết nước ĐS có tác dụng hạ đường huyết đáng kể ở chuột mắc bệnh tiểu đường bằng cách cải thiện tình trạng kháng insulin.
Dịch chiết từ rễ của ĐS có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh tiểu đường bằng cách giảm mức đường huyết và ngăn chặn sự gia tăng hoạt động của aldose reductase trong streptozotocin- chuột mắc bệnh tiểu đường sau 3 ngày uống [29]. Tác dụng chống oxy hóa Xu và cộng sự đã chứng minh, sau khi cho chuột uống polysaccharid từ dịch chiết nước ĐS (50 và 150 mg/kg/ngày) trong 8 tuần có thể làm tăng hoạt động của SOD trong huyết thanh và gan, glutathion peroxidase và nitric oxid synthase ở thận, đồng thời giảm MDA trong huyết thanh và gan và lipofuscin trong não. Việc trì hoãn tình trạng lão hóa có thể liên quan đến việc tăng khả năng miễn dịch, loại bỏ các gốc tự do và chống lipoperoxidation [20], [54]. Tác dụng kháng viêm ĐS có thể làm tăng chức năng của tủy xương sản sinh ra các tế bào có hoạt tính miễn dịch và các dưỡng bào, do đó điều hòa và làm giảm hội chứng miễn dịch ở chuột [1].
Tác dụng lên hệ thần kinh Pal và cộng sự sử dụng dịch chiết ĐS chứa alkaloid toàn phần cho chuột bị mất trí nhớ gây ra bởi scopolamin. Kết quả nghiên cứu cho thấy alkaloid có hiệu quả chống lại sự giảm acetylcholin. Các thành phần khác như saponin cũng được báo cáo có tác dụng bảo vệ đối với tổn thương tế bào hình sao do thiếu oxy/hạ đường huyết và tái oxy hóa, và có thể ức chế hoại tử tế bào hình sao ở ba nồng độ khác nhau (5,2; 52 và 520 µg/ml). Ngoài ra, dịch chiết polysaccharid từ ĐS (1,1 mmol/ml) cũng có tác dụng bảo vệ rõ rệt đối với tổn thương tế bào gốc thần kinh do natri thiosulphat gây ra [48].
Công dụng và cách dùng Rễ ĐS được dùng chữa trị tỳ vị kém, trị chứng phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, khát nước, ốm lâu, cơ thể suy nhược, sa tử cung, băng huyết, rong huyết, thiếu máu, vàng da tăng bạch cầu, viêm thượng thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau [3]. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác trong các đơn thuốc Tứ quân, Bát vị, Thập toàn đại bổ. Ngày dùng 6 - 12 g, dạng thuốc sắc, uống liền trong 7 - 14 ngày [11]. Tổng quan về polysaccharid Cấu trúc của polysaccharid gồm các đơn vị β-D-fructosan nối với nhau chủ yếu bằng liên kết β-D-Fruf(2→1) [22].
Công thức cấu tạo của polysaccharid Tính tan: tan trong nước [22]. Hàm lượng polysaccharid trong ĐS Việt Nam (C. Tác dụng dược lý: Polysaccharid có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, chống oxy hóa, hạ đường huyết, tăng khả năng tưới máu trên não do thiếu máu cục bộ. Gần đây, polysaccharid phân lập từ dịch chiết của C.