CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ ĐU ĐỦ RỪNG Đu đủ rừng (ĐĐR) có tên khoa học là Trevesia palmata (Roxb.) Vis, thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae). ĐĐR còn được gọi là Thông thảo gai, Thầu dầu núi, Nhật phiến, Thôi hoang [8], [9]. Đặc điểm thực vật và phân bố 1.
Đặc điểm thực vật Cây nhỡ cao 7 - 8 m hoặc hơn, thân ít phân nhánh, cành có gai, ruột xốp. Lá đơn, phiến lá phân thuỳ chân vịt, xẻ sâu như lá thầu dầu, có 5 - 9 thuỳ nhọn có răng, gân nổi ở hai mặt, mép lá có răng cưa t hô; cuống lá dài và có gai. Lá non phủ lông mềm, màu nâu nhạt, lá già nhẵn [8], [9]. Lá nhiều kiểu hình, có thể tròn hoặc không tròn ở vòng ngoài; bề ngang từ 30 - 90 cm; gốc lá hình tim rộng; thùy 5 - 10, lá đơn, không bị xẻ ở cây non, xẻ chân vịt ở cây già.
Lá chia thùy, thành các thùy lá có hình mác tới hình elip hoặc bị xẻ với nhiều hình dạng. Các lõm phân thùy nằm ở khoảng giữa tính từ gốc lá đến đỉnh lá, có thể xẻ đến tận gân giữa, tạo thành cuống giả. Đỉnh lá nhọn, mép lá có răng cưa; lông của cành phân nhánh hình khiên hoặc không đồng đều, có bề ngang khoảng 0,1 - 0,3 mm, mọc rậm rạp ở gân giữa và gân chính. Cuống lá kích thước từ 20 x 0,3 cm đến 90 x 1 cm; có thể không có gai hoặc có gai chỉ ở gần gốc lá và ở đỉnh.
Lưỡi bẹ lá kèm có kích thước tới 2 cm. Hoa to khoảng 1 cm, màu trắng. Hoa mọc thành tán, ở đỉnh hoặc ở nách, độ dài tổng thể khoảng 60 cm; cụm hoa thứ cấp thường có một tán ở đỉnh và 2 tán hoa ở vị trí đối diện qua điểm phân nhánh chính giữa. Lá bắc hình tam giác, nhọn, dài tới khoảng 3 cm, không bị rụng, có lông tơ dày, thỉnh thoảng xuất hiện các gai có lông cứng dài 1 - 2 mm; lông phủ hình sao không đều, bề rộng tới 1 mm, mọc rậm rạp.
Mỗi tán từ 25 - 65 hoa; bề rộng 6 - 10 cm, cuống dài từ 2 - 4 4 cm, lá bắc kích thước từ 0,2 - 1 cm, hình tam giác hẹp, có răng cưa, màu nâu hoặc hơi trắng. Đế hoa hình chuông hoặc hình con quay, kích thước từ 6 x 6 - 9 x 9 mm. Đĩa hoa dạng phòng (flat) hoặc hình vòm; gốc trụ hình đầu kích thước 2 x 1 - 4 x 1 mm. Đài hoa có răng cưa, cánh hoa hình răng, mũi cánh hoa nhọn dài khoảng 1 mm.
Hoa 8 - 10 cánh, kích thước thước 5 x 1,6 - 8 x 2,5 mm. Hoa hợp một phần, nhị từ 8 - 10, kích thước bao phấn 2 x 1,5 - 3 x 2,5 mm; chỉ nhị kích thước từ 4 - 6 cm. Hạt phấn có kích thước 25,7 - 32,4 µm. Quả dài 13 -18 mm, có khía; hạt dẹt.
Có hoa tháng 5 - 6, có quả tháng 7 - 9 [10]. Cây Đu đủ rừng (Trevesia palmata (Roxb.,) *Nguồn: Ảnh c hụp Đu đủ rừng tại Vị Xuyên tỉnh Hà Giang tháng 5 năm 2015 1. Phân bố ĐĐR mọc nhiều và dễ mọc ở những vùng đất ẩm dọc theo các sông, suối, ở thung lũng các rừng phục hồi [11]. Ở nước ta, loài này phân bố ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Ba Vì, Quảng Trị [8], Sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hà Nội, Thái Nguyên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng [12].
Trên thế giới, chúng có ở Trung Quốc, Bangladesh, Nepal, Ấ n Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia [10]. Thành phần hóa học Cho đến nay, các nghiên cứu về thành phần hóa học của ĐĐR kể cả trong nước và nước ngoài vẫn còn rất hạn chế. Một số nghiên cứu chỉ ra, 5 saponin là thành phần chính của loài này với aglycon là acid oleanolic (AO) và hederagenin. Năm 2000, từ cao ethanol (EtOH) lá loài T.
thu hái ở Italia, De Tommasi N. và cộng sự (cs.) đã phân lập được 6 saponin bisdesmosidic mới và 2 saponin triterpenoid đã biết, tất cả các hợp chất phân lập được đều có phần aglycon là AO hoặc dẫn chất của acid này. Theo nghiên cứu này, saponin phân lập từ cây ĐĐR có cấu trúc tương tự như Quil A (phân lập từ loài Quillaja saponaria), đều là saponin triterpenoid có 2 mạch đường (R và R1 ) và chủ yếu là các đường glucose, rhamnose, arabinose; các nhóm thế còn lại như R2 là nhóm methyl (-CH3 ) và dẫn chất oxy hóa của nó (- CH 2OH); R3 đa số là dẫn chất hydroxyl (-OH) [6]. Cấu trúc saponin phân lập từ Đu đủ rừng *Nguồn: Theo De Tom masi N.
(2000) [6] Theo kết quả nghiên cứu của Dinda B. (2010), 6 saponin đã được phân lập và xác định cấu trúc từ Trevesia palmata Vis. trong đó có 3 saponin có aglycon là A O và 2 saponin có aglycon là hederagenin [13]. Năm 2010, nhóm nghiên cứu của Panyaphu K.
đã sử dụng các phản ứng hóa học để định tính các nhóm chất đặc trưng, kết quả cho thấy trong lá cây T. thu hái ở miền Bắc Thái Lan có mặt của các nhóm hợp chất phenolic, flavonoid, triterpen và lacton glycosid [14]. đã phân lập được 2 hợp chất triterpen glycosid là hederagenin-3-O-β-ᴅ-glucopyranosyl-(1→ 3)-α-ʟ- rhamnopyranosyl-(1→2) -α-ʟ-rhamnopyranosyl-(1→2)-α-ʟ-arabinopyranosid và 6 acid 3-O-α-ʟ-rhamnopyranosyl asiatic cùng với 3 hợp chất đã biết là macranthosid A, α-hederin và ilekudinosid D [15]. Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học của ĐĐR.
Tác dụng s inh học và dược lý Hiện nay, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về hoạt tính của các hợp chất và các cao chiết từ ĐĐR. đã chứng minh dịch chiết từ lá T. palmata và một số saponin phân lập được cùng với các sản phẩm prosapogenin thủy phân đều thể hiện tác dụng chống tăng sinh tế bào trên các dòng tế bào J774 (dòng tế bào ung thư đại thực bào chuột), HEK-293 (dòng tế bào phôi thận người 293), WEHI164 (dòng tế bào u sarcoma xơ) so với chất đối chứng là 6-mercaptopurin [6]. Năm 2012, nghiên cứu của Panyaphu K.
cho thấy, loài T. palmata có hoạt tính chống oxy hóa theo phương pháp DPPH (EC50 là 9,3 g tương ứng 14,76 g/mg dịch chiết); hàm lượng phenolic tổng định lượng theo phương pháp cân tính theo acid gallic là 10,86 mg/g dịch chiết [14]. Theo nghiên cứu của Rahman K. (2014), cắn methanol (MeOH) từ lá của loài T.
palmata có tác dụng giảm đau và hạ đường huyết trên chuột nhắt gây tăng đường huyết thực nghiệm thông qua xét nghiệm dung nạp glucose đường uống. Cắn dịch chiết loài T. palmata làm giảm liều phụ thuộc vào lượng đường trong máu ở chuột thực nghiệm uống glucose. Ở liều 100, 200 và 400 mg/kg cân n ặng chuột thực nghiệm, mức đường huyết giảm tương ứng 17,9, 28,1 và 47,4%, được so sánh với thuốc glibenclamid liều 10 mg/kg cân nặng làm giảm lượng đường trong máu 47,4%.
Trong thử nghiệm giảm đau trên mô hình gây đau bằng tiêm acid acetic màng bụng chuột thực nghiệm, ở các liều 50, 100, 200 và 400 mg//kg cân nặng làm giảm số lượng các cơn co thắt bụng lần lượt là 33,3, 40,7, 48,1 và 55,6% so với 7 nhóm đối chứng sử dụng aspirin thuốc giảm đau tiêu chuẩn ở liều 200 và 400 mg/kg cân n ặng tương ứng là 48,1 và 63,0% [16]. (2014) đã chứng minh tác dụng làm tan huyết khối và kháng viêm in vitro của dịch chiết từ lá loài T. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cắn MeOH và các cắn phân đoạn (n-hexan, cloroform, ethyl acetat, nước) đều có tác dụng làm tan huyết khối với kết quả tương ứng là 43,3; 44,2; 43,3; 40,3; 44,3% so với đối chứng dương streptokinase là 71,67%. Tác dụng kháng viêm được đánh giá bằng phương pháp biến tính albumin trong đó cao MeOH từ lá ở mức liều 1 mg/ml, ức chế 89,24% trong khi nhóm chứng dương sử dụng natri diclofenac ức chế 96,77% ở mức liều tương đương [17].
Nghiên cứu của Kim B. (2018), cho thấy, các hợp chất triterpen glycosid (TG1-3,5) phân lập từ T. palmata thể hiện các hoạt động chống nấm mạnh, chống lại mầm bệnh đạo ôn M. oryzae với giá trị nồng độ ức chế 50% (IC50 ) = 2 - 5 μg/ml.
Đặc biệt, khi cây được xử lý bằng hợp chất TPG1 (500 μg/ml), giá trị kiểm soát bệnh chống bệnh đạo ôn, nấm mốc xám cà chua, bệnh sương mai cà chua và lần lượt là 84, 82 và 88%, so với chứng không điều trị TG [15]. Một số saponin phân lập từ T. palmata có tác dụng bảo vệ tế bào gan chuột in vitro khi gây tổn thương bằng carbon tetrachlorid [18]. Các saponin có aglycon là AO có độc tính rất thấp [19] và thể hiện tác dụng bảo vệ gan, chống viêm, chống khối u, hạ lipid máu, kháng khuẩn, hạ glucose máu, chống các tác nhân gây ung thư, chống thụ thai, bảo vệ tế bào tim trước tác hại của đường máu cao [20] làm tăng tiết insulin của tế bào β tuyến tuỵ [21].
Hederagenin có hoạt tính kháng bổ thể [22] và chống viêm [23]. Công dụng Ở nước ta, ĐĐR đã được sử dụng từ lâu. Lõi thân dùng chữa phù thũng, đái dắt, tê thấp và làm thuốc hạ nhiệt, th anh phế nhiệt và được dùng 8 làm thuốc bổ. Lá được dùng nấu nước xông chữa tê liệt, bại người v à giã đắp chữa gãy xương (ở Trung Quốc người ta dùng lá chữa ngã tổn thương hay dao chém thương tích) [11].
Ngoài ra, ĐĐR có tác chữa các bệnh khó tiêu, táo bón, thấp khớp, đau bụng, viêm phổi [24]. palmata cũng được sử dụng trong công thức tắm thảo dược sau sinh của cộng đồng Miên (Yao) của Thái Lan [14]; dân tộc Kry ở Lào sử dụng nước sắc của thân cây và rễ để phục hồi sau sinh, co tử cung, giảm đau bụng và tăng tiết sữa [25]. Ở Malaysia dùng để chữa gẫy xương và liền da [25]. Ở Ấ n Độ, lá ĐĐR được sử dụng làm rau ăn [26]; quả dùng như là 1 chất làm say cá để dễ đánh bắt [27].
Liều dùng: 20 - 30 g dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp [11]. Định ng hĩa, phân loại * Theo Dược Điển Việt Nam (DĐVN) V [28], cao thuốc là chế phẩm được điều chế bằng cách cô hoặc sấy đến thể chất qui định các dịch chiết thu được từ dược liệu thực vật hay động vật với các dung môi thích hợp. Cao thuốc được chia làm 3 loại: - Cao lỏng: Là chất lỏng hơi sánh, có mùi vị đặc trưng của dược liệu sử dụng, trong đó cồn và nước đóng vai trò dung môi chính (hay chất bảo quản hay cả hai).
Nếu không có chỉ dẫn khác, qui ước 1 ml cao lỏng tương ứng với 1g dược liệu dùng để điều chế cao thuốc. - Cao đặc: Là khối đặc quánh.